Phát triển kinh tế trang trại theo hướng xanh, bền vững ở Lào Cai
23/03/2026 11:51 GMT +7
Phát triển kinh tế trang trại theo hướng xanh, bền vững đang trở thành hướng đi trọng tâm của xã Quy Mông, tỉnh Lào Cai nhằm nâng cao thu nhập cho người dân. Từ sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, địa phương này đang từng bước chuyển mình sang sản xuất hàng hóa, an toàn và có trách nhiệm với môi trường.
- Nông thôn Tây Bắc: Xã Quy Mông, tỉnh Lào Cai sẵn sàng cho ngày bầu cử
- Nông thôn Tây Bắc: Khôi phục cây mía ở Lâm Giang (Lào Cai)
- Người Mông ở xã mới này của Lào Cai (địa phận Yên Bái) khênh lợn vô khu rừng toàn cây cổ thụ hoành tráng để làm gì vậy?

Quy Mông khai thác lợi thế, tạo nền tảng phát triển kinh tế
Với diện tích tự nhiên gần 150km², quy mô dân số hơn 16.000 người và 30 thôn sau sáp nhập, xã Quy Mông, tỉnh Lào Cai đang có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế nông nghiệp.
Những năm gần đây, xã Quy Mông đã từng bước tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp, xác định kinh tế trang trại là hạt nhân trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Đồng thời, xã tích cực tuyên truyền, vận động bà con nhân dân thay đổi tư duy sản xuất từ nhỏ lẻ sang sản xuất tập trung, theo hướng hàng hoá, có định hướng thị trường.
Hiện toàn xã có trên 90 trang trại chăn nuôi gà quy mô từ 1.000–10.000 con/lứa; 8 cơ sở chăn nuôi trâu, bò quy mô khoảng 10 con/lứa; 5 cơ sở chăn nuôi lợn từ 50–100 con/lứa.

Mô hình chăn nuôi trâu, bò vỗ béo của anh Nguyễn Hồng Ca, thôn Tân Thịnh, là một điển hình tiêu biểu cho hướng đi bài bản, hiệu quả.
Gắn bó với nghề suốt hàng chục năm, anh Ca đã từng bước mở rộng quy mô chăn nuôi, hiện duy trì đàn gia súc từ 40–50 con.
Chuồng trại được xây dựng khoa học, chia thành nhiều khu vực riêng biệt, thuận tiện cho việc theo dõi, chăm sóc và quản lý đàn vật nuôi.
Anh Ca chia sẻ: Chăn nuôi vỗ béo tuy mang lại hiệu quả kinh tế cao nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt của vùng cao.
Chính vì vậy, mỗi năm gia đình tôi đều chủ động tham gia các lớp tập huấn, cập nhật kiến thức về kỹ thuật chăm sóc, phòng chống dịch bệnh cho trâu, bò.
“Muốn nuôi hiệu quả thì phải nắm chắc kỹ thuật, nhất là khâu phòng bệnh và giữ ấm cho đàn vật nuôi vào mùa đông. Có năm nhiệt độ xuống rất thấp, nếu chủ quan là thiệt hại ngay”, anh Ca tâm sự.
Nhờ áp dụng đúng quy trình kỹ thuật, tuân thủ các khuyến cáo của cơ quan chuyên môn, đàn trâu, bò của gia đình luôn phát triển khỏe mạnh, sinh trưởng tốt. Tỷ lệ hao hụt được giảm thiểu, hiệu quả kinh tế vì thế cũng được nâng lên rõ rệt.
Không chỉ chú trọng kỹ thuật, anh Ca còn chủ động nguồn thức ăn cho đàn gia súc. Gia đình tận dụng tối đa diện tích đất sẵn có để trồng cỏ voi, dự trữ rơm rạ và phụ phẩm nông nghiệp, đảm bảo nguồn thức ăn ổn định quanh năm.
Cách làm này không chỉ giúp giảm chi phí chăn nuôi mà còn hạn chế phụ thuộc vào thị trường bên ngoài.

Song song với chăn nuôi, Quy Mông còn phát triển mạnh các vùng sản xuất nông – lâm nghiệp. Toàn xã hiện có 5.746 ha quế, trong đó hơn 3.000 ha chuyên canh tập trung và trên 1.000 ha sản xuất theo hướng hữu cơ, với 2 sản phẩm đạt chuẩn OCOP.
Bên cạnh đó, tre Bát Độ phát triển trên diện tích 2.278 ha, sản lượng dự kiến hơn 20.700 tấn mỗi năm, mang lại thu nhập bình quân 70–80 triệu đồng/ha.
Ngoài ra, vùng dâu tằm 300 ha cho sản lượng khoảng 470 tấn kén/năm, liên kết tiêu thụ với doanh nghiệp. Đến nay, toàn xã có 11 sản phẩm OCOP đạt từ 3–4 sao, tạo lợi thế trong xây dựng thương hiệu nông sản.
Với diện tích khoảng 3,6 ha dâu tằm, gia đình chị Nguyễn Thị Hương, thôn Hồng Tiến, xã Quy Mông là một trong những hộ có quy mô nuôi tằm lớn tại địa phương. Nhờ chủ động nguồn lá dâu và áp dụng đúng kỹ thuật, nhiều năm qua, nghề nuôi tằm đã mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho gia đình.
Chị Nguyễn Thị Hương bảo: Sau vụ tằm thu, thời gian ngắt quãng khá lâu nên nhiều hộ không có nguồn thu từ nuôi tằm. Vì vậy khi bước vào vụ tằm xuân, bà con rất phấn khởi, ai cũng tranh thủ dọn dẹp nhà tằm, ươm giống để chuẩn bị nuôi.
Theo chị Hương, chỉ khoảng 15 ngày sau khi vào tằm, các hộ đã có thể bắt đầu thu kén và bán ra thị trường. Đây là ưu điểm lớn của nghề nuôi tằm, giúp người dân có dòng tiền quay vòng nhanh, cải thiện thu nhập trong thời gian ngắn.
Thực tế cho thấy, kinh tế trang trại đã góp phần nâng cao giá trị sản xuất thông qua việc áp dụng giống mới, kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến và quy trình chăm sóc khoa học. Thu nhập bình quân đầu người của người dân từng bước được cải thiện, đạt trên 60 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 0,69%.
Hướng tới nông nghiệp xanh, tuần hoàn
Điểm nổi bật trong phát triển kinh tế trang trại tại Quy Mông là định hướng nông nghiệp xanh, an toàn và bền vững.
Nhiều hộ chăn nuôi đã áp dụng quy trình an toàn sinh học, sử dụng đệm lót sinh học, xây dựng hầm biogas để xử lý chất thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Việc tận dụng phụ phẩm nông nghiệp trong sản xuất không chỉ giúp giảm chi phí đầu vào mà còn góp phần hình thành mô hình sản xuất tuần hoàn.
Đây là hướng đi phù hợp trong bối cảnh phát triển nông nghiệp hiện đại, thân thiện với môi trường.
Với những bước đi bài bản, phù hợp thực tiễn, xã Quy Mông đang từng bước khẳng định hướng phát triển đúng đắn. Kinh tế trang trại không chỉ mở ra cơ hội làm giàu cho người dân mà còn tạo nền tảng vững chắc để địa phương bứt phá, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững trong những năm tới.

Thời gian tới, xã Quy Mông sẽ chuyển đổi khoảng 100 ha diện tích lúa kém hiệu quả và đất màu soi bãi sang trồng dâu tằm, nâng tổng diện tích lên khoảng 400 ha.
Đây được xem là bước đi phù hợp, tận dụng lợi thế về thổ nhưỡng, khí hậu, đồng thời đáp ứng nhu cầu liên kết tiêu thụ ổn định từ doanh nghiệp.
Cùng với đó, vùng quế hữu cơ một trong những thế mạnh chủ lực cũng được định hướng mở rộng diện tích lên trên 2.000 ha.
Đối với cây tre măng Bát Độ, xã Quy Mông dự kiến mở rộng thêm 200 ha, nâng tổng diện tích lên khoảng 2.500 ha.
Những định hướng, cách làm bài bản trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng hàng hóa, gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
Từ đó, không chỉ nâng cao thu nhập cho người dân mà còn từng bước hình thành vùng sản xuất tập trung, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển kinh tế nông nghiệp xanh, bền vững trong giai đoạn tới.



