Sức mua của thương lái hạn chế, lúa tươi và gạo nguyên liệu xuất khẩu tiếp tục giảm

+ aA -
Nguyễn Phương

27/08/2026 14:31 GMT +7

Thị trường lúa gạo trong nước đang chịu tác động chủ yếu từ sức mua yếu và tốc độ giao dịch chậm.

Giá lúa gạo hôm nay 27/8

Giá lúa gạo hôm nay (27/8) tại Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục diễn biến phân hóa. Giao dịch trên thị trường khá chậm, sức mua của thương lái hạn chế, trong khi một số mặt hàng lúa tươi và gạo nguyên liệu xuất khẩu tiếp tục điều chỉnh giảm.

Đáng chú ý, cập nhật từ Trung tâm Thông tin Công Nghiệp và Thương mại (VITIC), giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 giảm 150 đồng/kg, xuống 9.100 - 9.200 đồng/kg; CL 555 cũng giảm 150 đồng/kg, cùng dao động 9.100 - 9.200 đồng/kg. Các loại gạo nguyên liệu còn lại tương đối ổn định. Gạo OM 5451 ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; Đài Thơm 8 đạt 9.200 - 9.400 đồng/kg; OM 18 dao động 8.700 - 8.850 đồng/kg; OM 380 và Sóc thơm cùng ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.

Ở nhóm phụ phẩm, giá tiếp tục dao động trong khoảng 7.450 - 8.750 đồng/kg. Trong đó, tấm thơm ở mức 8.600 - 8.750 đồng/kg, còn cám dao động 7.550 - 7.650 đồng/kg.

Trên thị trường lúa tươi, một số giống chủ lực cũng chịu áp lực giảm. Lúa OM 5451 giảm 100 đồng/kg, xuống 6.500 - 6.600 đồng/kg; OM 34 giảm 100 đồng/kg, còn 6.000 - 6.100 đồng/kg. Lúa OM 18 dao động 6.800 - 7.000 đồng/kg, Đài Thơm 8 ở mức 6.800 - 7.000 đồng/kg và IR 50404 đạt 6.300 - 6.400 đồng/kg.

Giao dịch tại các địa phương nhìn chung vẫn trầm lắng. Tại An Giang, thương lái hỏi mua mới lai rai, giá lúa tươi ít biến động. Tại Đồng Tháp, hoạt động thu mua lúa mới diễn ra chậm, một số bạn hàng chưa mua mới. Các khu vực Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long và Tây Ninh cũng ghi nhận lượng giao dịch hạn chế. Tuy nhiên, thị trường chưa xuất hiện áp lực bán tháo, nên giá lúa mới chỉ điều chỉnh cục bộ.

Giao dịch trên thị trường khá chậm, sức mua của thương lái hạn chế, trong khi một số mặt hàng lúa tươi và gạo nguyên liệu xuất khẩu tiếp tục điều chỉnh giảm.

Ở phân khúc bán lẻ, giá gạo tiếp tục đi ngang. Gạo Nàng Nhen có mức giá cao nhất, khoảng 28.000 đồng/kg; Hương Lài và gạo Nhật cùng ở mức 22.000 đồng/kg. Gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 - 22.000 đồng/kg, Nàng Hoa khoảng 21.000 đồng/kg. Jasmine được bán với giá 16.500 - 18.000 đồng/kg; Đài Thơm 15.500 - 17.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng khoảng 16.000 đồng/kg. Gạo thường dao động 13.500 - 15.500 đồng/kg, Sóc thường 14.000 - 15.000 đồng/kg, Sóc Thái khoảng 20.000 đồng/kg và OM 18 ở mức 15.500 - 16.500 đồng/kg.

Phân khúc nếp cũng không có nhiều thay đổi. Nếp 3 tháng khô được giao dịch ở mức 9.600 - 9.700 đồng/kg, trong khi nếp IR 4625 tươi đạt 7.300 - 7.500 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam giữ ổn định so với phiên trước. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm được chào bán 500 - 505 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm ở mức 370 - 374 USD/tấn; gạo Jasmine đạt 538 - 542 USD/tấn.

Tại Thái Lan, giá gạo 5% tấm dao động 450 - 454 USD/tấn, còn gạo 100% tấm ở mức 374 - 378 USD/tấn. Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm được chào bán 360 - 364 USD/tấn và gạo 100% tấm ở mức 292 - 296 USD/tấn.

Nhìn chung, thị trường lúa gạo trong nước đang chịu tác động chủ yếu từ sức mua yếu và tốc độ giao dịch chậm. Trong ngắn hạn, giá có thể tiếp tục phân hóa giữa các chủng loại, trong đó những mặt hàng có nhu cầu thu mua thấp vẫn có khả năng chịu thêm áp lực điều chỉnh, còn các loại gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu sẽ phụ thuộc nhiều vào sức mua của nhà máy và diễn biến đơn hàng trên thị trường quốc tế.

Số liệu mới nhất của Cục Hải quan Việt Nam cho thấy, tính từ đầu năm đến ngày 15/8, Việt Nam đã xuất khẩu 5,7 triệu tấn gạo, thu về 2,73 tỷ USD. So với cùng kỳ năm 2025, lượng xuất khẩu giảm 2,4%, trong khi kim ngạch giảm tới 8,7%.

Riêng 15 ngày đầu tháng 8, xuất khẩu gạo đạt 230.273 tấn, kim ngạch 118,4 triệu USD, giảm lần lượt 36,5% về lượng và 34% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái.

Trước đó, xuất khẩu gạo trong tháng 7 cũng kém khả quan, chỉ đạt 471.814 tấn, kim ngạch 241,1 triệu USD, giảm 37,6% về lượng và 35,8% về kim ngạch so với tháng 6; đồng thời giảm 40% về lượng và 36,5% về kim ngạch so với cùng kỳ tháng 7/2025.

Nguyên nhân chủ yếu do lượng gạo xuất khẩu sang thị trường chủ lực Philippines chỉ đạt 147.903 tấn, giảm 57,7% so với tháng 6 và 54,9% so với cùng kỳ, đồng thời là mức thấp nhất ghi nhận được kể từ đầu năm. Do chiếm tỷ trọng lớn trong tổng xuất khẩu, sự sụt giảm tại Philippines đã trở thành yếu tố chính kéo giảm kết quả chung của ngành gạo Việt Nam. 

Mặc dù vậy, tính chung 7 tháng đầu năm, Philippines vẫn là thị trường lớn nhất của gạo Việt Nam, chiếm 46,2% tổng khối lượng xuất khẩu, với 2,54 triệu tấn, trị giá 1,13 tỷ USD, tăng 4,4% về lượng nhưng giảm 5,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.

Trong khi đó, Trung Quốc đang nổi lên như một điểm sáng trong bức tranh xuất khẩu gạo 7 tháng với khối lượng đạt 977.639 tấn, kim ngạch 483,2 triệu USD, tăng lần lượt 96,8% về lượng và 92,2% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2025.

Lượng gạo xuất khẩu sang Australia và Arab Saudi cũng tăng lần lượt 25,4% và 29,2%. Đáng chú ý, xuất khẩu sang Iraq tăng tới 167,4 lần về lượng và 111 lần về kim ngạch.

Ngược lại, xuất khẩu sang một số thị trường chủ lực như Ghana, Bờ Biển Ngà, Malaysia, Singapore, Mozambique và Hong Kong (Trung Quốc) lại có xu hướng giảm.

Một số loại lúa tươi và gạo nguyên liệu lại giảm, giao dịch chậm

Một số loại lúa tươi và gạo nguyên liệu lại giảm, giao dịch chậm

Thị trường lúa gạo ngày 26/8 chưa cho thấy tín hiệu cải thiện rõ rệt về giao dịch. Giá lúa tươi và một số loại gạo nguyên liệu điều chỉnh giảm trong bối cảnh nhu cầu mua tại nhiều vùng nguyên liệu còn yếu, trong khi giá gạo bán lẻ và xuất khẩu vẫn tương đối ổn định.

Gạo nguyên liệu giảm, trong đó gạo CL 555 giảm mạnh, giá lúa đi ngang cuối tuần

Gạo nguyên liệu giảm, trong đó gạo CL 555 giảm mạnh, giá lúa đi ngang cuối tuần

Trong khi giá lúa tươi cơ bản ổn định do nhu cầu thu mua chậm, một số loại gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu giảm vào ngày cuối tuần hôm nay (22/8), trong đó gạo CL 555 giảm mạnh 150 đồng/kg.

Giá một số loại lúa tươi tăng, giảm trái chiều, gạo nguyên liệu xuất khẩu điều chỉnh nhẹ

Giá một số loại lúa tươi tăng, giảm trái chiều, gạo nguyên liệu xuất khẩu điều chỉnh nhẹ

Trong bối cảnh nhu cầu quốc tế chưa có sự bứt phá rõ ràng, giá gạo Việt Nam nhiều khả năng tiếp tục duy trì ổn định trong ngắn hạn. Diễn biến đơn hàng xuất khẩu, tốc độ thu mua nguyên liệu của doanh nghiệp và lượng lúa đưa ra thị trường sẽ tiếp tục là những yếu tố quyết định xu hướng giá trong thời gian tới.

Giá lúa tươi gần như đi ngang, gạo nguyên liệu IR 504 tăng 100 đồng/kg và OM 380 tăng 50 đồng/kg

Giá lúa tươi gần như đi ngang, gạo nguyên liệu IR 504 tăng 100 đồng/kg và OM 380 tăng 50 đồng/kg

Thị trường lúa gạo ngày 20/8 tiếp tục duy trì trạng thái ổn định nhưng có sự phân hóa. Giá lúa tươi gần như đi ngang, trong khi gạo nguyên liệu IR 504 tăng 100 đồng/kg và OM 380 tăng 50 đồng/kg. Giá gạo thành phẩm, bán lẻ và xuất khẩu chưa có thay đổi đáng kể.

Lúa giữ giá, gạo nguyên liệu xuất khẩu tăng, nhiều nước tăng nhập gạo trước El Nino

Lúa giữ giá, gạo nguyên liệu xuất khẩu tăng, nhiều nước tăng nhập gạo trước El Nino

Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long ngày 19/8 nhìn chung ổn định. Trước dự báo El Nino có thể quay trở lại và mạnh nhất trong hơn 70 năm qua, nhiều quốc gia đang chủ động tăng dự trữ lương thực, trong đó có gạo.