Phú Thọ: Siết chặt quy trình sàng lọc dự án, không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng

+ aA -
Thành Dân

03/10/2026 08:12 GMT +7

Việc siết chặt quy trình sàng lọc dự án, ưu tiên công nghệ sạch, hiện đại hóa quản lý các khu công nghiệp đang giúp tỉnh Phú Thọ phát triển hài hòa giữa sản xuất và bảo vệ hệ sinh thái.

Những áp lực môi trường hiện hữu

Nhờ vị trí chiến lược tại cửa ngõ Tây Bắc Thủ đô, tỉnh Phú Thọ đang vươn mình trở thành một “cực” phát triển công nghiệp năng động. Đến nay, tỉnh đã thành lập 31 khu công nghiệp (KCN), từng bước hình thành hệ sinh thái sản xuất quy mô và hiện đại. Trong đó, 18 KCN đã chính thức đi vào hoạt động, thu hút 880 dự án đầu tư trong và ngoài nước.

Đáng chú ý, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm ưu thế lớn với 528 dự án, tổng vốn đăng ký đạt hơn 11,2 tỷ USD. Việc khoảng 81,5% số dự án đi vào vận hành ổn định đã đóng góp tích cực vào tăng trưởng GRDP, gia tăng kim ngạch xuất khẩu, bổ sung nguồn thu ngân sách và giải quyết việc làm cho hàng chục nghìn lao động địa phương.

Tỉnh Phú Thọ có 18 KCN đã chính thức đi vào hoạt động, thu hút 880 dự án đầu tư trong và ngoài nước. Ảnh: Thành Dân

Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng của các ngành sản xuất như cơ khí, điện tử, may mặc hay vật liệu xây dựng cũng đặt hệ sinh thái công nghiệp trước những thách thức không nhỏ về môi trường và hạ tầng.

Theo số liệu thống kê từ Ban Quản lý các KCN tỉnh Phú Thọ, năm 2025, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại các KCN lên tới khoảng 1,72 triệu tấn, chất thải rắn công nghiệp khoảng 243.000 tấn và chất thải nguy hại gần 68.000 tấn.

Bên cạnh đó, mỗi ngày đêm các nhà máy xả ra khoảng 44.970m³ nước thải cùng lượng khí thải công nghiệp lớn. Áp lực này đòi hỏi tỉnh phải có giải pháp kiểm soát chặt chẽ để tránh nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng tới đời sống dân sinh.

Sự gia tăng nhanh chóng của các ngành sản xuất như cơ khí, điện tử, may mặc hay vật liệu xây dựng cũng đặt hệ sinh thái công nghiệp trước những thách thức không nhỏ về môi trường và hạ tầng. Ảnh: Thành Dân

Số hóa giám sát, khép kín vòng đời chất thải

Nhận diện rõ những nguy cơ tiềm ẩn, tỉnh Phú Thọ đã chủ động triển khai đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường. Phần lớn các KCN đang hoạt động đều được trang bị hệ thống tách nước mưa, thu gom nước thải riêng biệt và khu lưu giữ chất thải rắn đúng quy chuẩn.

Hiện đã có 15/18 KCN vận hành nhà máy xử lý nước thải tập trung, đưa tỷ lệ đấu nối xả thải của các doanh nghiệp thứ cấp đạt tới 95%. Công tác giám sát xả thải cũng được hiện đại hóa thông qua việc lắp đặt hệ thống quan trắc tự động tại hầu hết các KCN, truyền dữ liệu trực tiếp và liên tục về cơ quan quản lý.

Đặc biệt, ý thức chấp hành pháp luật môi trường của các chủ doanh nghiệp và người lao động cũng được nâng cao nhờ các chương trình tuyên truyền, tập huấn trực quan. Nhờ đó, các vi phạm và vụ việc khiếu kiện liên quan đến môi trường đã giảm thiểu rõ rệt.

Phần lớn các KCN đang hoạt động đều được trang bị hệ thống tách nước mưa, thu gom nước thải riêng biệt và khu lưu giữ chất thải rắn đúng quy chuẩn. Ảnh: Thành Dân

Sự liên kết giữa các KCN với các đơn vị xử lý chất thải chuyên nghiệp như Công ty TNHH Môi trường Phú Hà, Nhật Tân, Bình Xuyên, Công nghiệp xanh... đã hình thành mạng lưới thu gom, phân loại và tái chế bài bản. Mô hình này góp phần biến chất thải của nhà máy này thành nguyên liệu đầu vào cho ngành sản xuất khác, hướng tới nền kinh tế tuần hoàn.

Dù đạt được nhiều kết quả khả quan, công tác quản lý môi trường tại các KCN Phú Thọ vẫn đứng trước một số khó khăn như lực lượng cán bộ chuyên trách còn mỏng, nguồn ngân sách hạn chế, cùng tình trạng một số ít doanh nghiệp tự ý nâng công suất khi chưa hoàn thiện thủ tục pháp lý. Bởi vậy, tỉnh Phú Thọ xác định phải chủ động kiểm soát nguy cơ ngay từ khâu tiếp nhận dự án thay vì thụ động xử lý sự cố ở cuối nguồn.

KCN Nam Bình Xuyên Green Park là điểm đến lý tưởng dành cho các doanh nghiệp sản xuất và công nghệ cao, sở hữu hạ tầng hiện đại cùng không gian phát triển bền vững. Ảnh: Thành Dân

Trong bối cảnh các tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) trở thành yêu cầu bắt buộc trên thị trường quốc tế, Phú Thọ xem công nghiệp xanh là “tấm hộ chiếu” để thu hút dòng vốn chất lượng cao. Địa phương đang áp dụng quy trình sàng lọc đầu vào nghiêm ngặt, ưu tiên các dự án sử dụng công nghệ hiện đại, tiết kiệm năng lượng và áp dụng quy trình sản xuất khép kín.

Song song đó, tỉnh đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý môi trường theo mô hình “một cửa, tại chỗ” nhằm rút ngắn thời gian, giảm chi phí cho nhà đầu tư nhưng vẫn đảm bảo hiệu lực giám sát. Tỉnh cũng tối ưu hóa nguồn lực tài chính, nâng cao năng lực bộ máy chuyên trách để tăng cường công tác kiểm tra, lấy mẫu đột xuất đối với các nguồn thải.

Sự đồng lòng và cam kết thực thi nghiêm túc các quy định bảo vệ môi trường giữa chính quyền và cộng đồng doanh nghiệp chính là nền tảng vững chắc để tỉnh Phú Thọ đảy mạnh phát triển kinh tế, khẳng định vị thế một trung tâm công nghiệp hiện đại, xanh và bền vững.

Nông thôn Tây Bắc gỡ khó để hoàn thành mục tiêu phát triển sản phẩm OCOP năm 2026

Nông thôn Tây Bắc gỡ khó để hoàn thành mục tiêu phát triển sản phẩm OCOP năm 2026

Dù chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) đã tạo động lực lớn cho kinh tế nông thôn, song vẫn còn không ít hạn chế. Nhằm gỡ vướng và đôn đốc tiến độ, tỉnh Phú Thọ đã ban hành Công văn số 18019/UBND-NN10 yêu cầu các sở, ngành, địa phương tập trung chỉ đạo phát triển sản phẩm OCOP năm 2026.

Phú Thọ: Xử lý dứt điểm xe hợp đồng trá hình và bến cóc

Phú Thọ: Xử lý dứt điểm xe hợp đồng trá hình và bến cóc

Tỉnh Phú Thọ vừa ban hành văn bản số 16784/UBND-NC4 yêu cầu lực lượng Công an cùng các sở, ngành và địa phương đồng loạt ra quân siết chặt kỷ cương, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong hoạt động vận tải đường bộ.

Phú Thọ: Xuất nhập khẩu 9 tháng năm 2026 đạt hơn 39,3 tỷ USD

Phú Thọ: Xuất nhập khẩu 9 tháng năm 2026 đạt hơn 39,3 tỷ USD

Hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đạt hơn 39,3 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm 2026, gần đạt mục tiêu của cả năm. Đây là kết quả từ việc mở rộng quy mô sản xuất của khối doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI).