Nguồn lúa giảm khiến hoạt động thu mua chậm hơn, lúa tươi có xu hướng nhích lên

+ aA -
Nguyễn Phương

24/08/2026 10:49 GMT +7

Nguồn lúa tại một số địa phương đã giảm so với trước khiến hoạt động thu mua chậm hơn, trong khi giá lúa tươi có xu hướng nhích lên ở một số chủng loại. Trên thị trường gạo nguyên liệu và xuất khẩu, mặt bằng giá chủ yếu đi ngang.

Giá lúa gạo hôm nay 24/8

Thị trường lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long bước vào tuần mới với diễn biến khá ổn định về giá, nhưng thanh khoản chưa cải thiện rõ rệt. Nguồn lúa tại một số địa phương đã giảm so với trước khiến hoạt động thu mua chậm hơn, trong khi giá lúa tươi có xu hướng nhích lên ở một số chủng loại. Trên thị trường gạo nguyên liệu và xuất khẩu, mặt bằng giá chủ yếu đi ngang.

Trung tâm Thông tin Công Nghiệp và Thương mại (VITIC) cập nhật tại An Giang, giá lúa tươi IR 50404 hiện phổ biến 6.300-6.400 đồng/kg, OM 34 ở mức 6.000-6.200 đồng/kg. Các giống lúa thơm có giá cao hơn, với Đài Thơm 8 đạt 6.800-7.000 đồng/kg và OM 18 ở mức 6.900-7.100 đồng/kg. Lúa OM 5451 được thu mua khoảng 6.600-6.700 đồng/kg.

Nguồn lúa tại nhiều khu vực trong vùng đang có xu hướng thu hẹp. Vĩnh Long là địa phương ghi nhận lượng lúa còn lại khá ít, trong khi tại An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, Cần Thơ và Tây Ninh, hoạt động giao dịch chưa sôi động. Việc nguồn cung giảm đã góp phần hỗ trợ giá một số loại lúa tăng nhẹ, song chưa tạo ra sự thay đổi lớn trên toàn thị trường.

Đối với gạo nguyên liệu, giá IR 504 hiện ở mức 9.450-9.550 đồng/kg, CL 555 đạt 9.500-9.550 đồng/kg. Gạo OM 5451 được giao dịch trong khoảng 9.300-9.400 đồng/kg, OM 18 ở mức 8.700-8.850 đồng/kg và Đài Thơm 8 đạt 9.200-9.400 đồng/kg. Hai mặt hàng OM 380 và Sóc thơm cùng có giá 7.500-7.600 đồng/kg.

Thị trường phụ phẩm cũng không ghi nhận biến động đáng kể. Tấm thơm dao động 8.700-8.800 đồng/kg, trong khi cám được giao dịch ở mức 7.350-7.550 đồng/kg.

Ở kênh bán lẻ, giá gạo tiếp tục ổn định. Nàng Nhen có mức giá cao nhất, khoảng 28.000 đồng/kg; Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài 20.000-22.000 đồng/kg và Nàng Hoa 21.000 đồng/kg. Jasmine được bán với giá 16.500-17.000 đồng/kg, Đài thơm 15.000-16.000 đồng/kg. Các loại gạo phổ biến như gạo trắng thông dụng và gạo thường lần lượt ở mức khoảng 16.000 đồng/kg và 13.500-14.500 đồng/kg. Gạo Sóc thường có giá 14.000-15.000 đồng/kg, Sóc Thái 20.000 đồng/kg, gạo Nhật 22.000 đồng/kg và OM 18 khoảng 15.000-16.000 đồng/kg.

Trong khi đó, nhóm nếp tiếp tục giữ giá ổn định. Nếp IR 4625 tươi được giao dịch 7.300-7.500 đồng/kg, còn nếp 3 tháng khô ở mức 9.600-9.700 đồng/kg.

Trên thị trường quốc tế, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam chưa có thay đổi đáng kể so với cuối tuần. Gạo thơm 5% tấm hiện được chào bán 500-505 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm ở mức 370-374 USD/tấn và Jasmine đạt 538-542 USD/tấn.

Giá gạo của các đối thủ xuất khẩu lớn cũng đang duy trì tương đối ổn định. Thái Lan chào gạo 5% tấm ở mức 450-454 USD/tấn và gạo 100% tấm 374-378 USD/tấn. Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm có giá 360-364 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm ở mức 292-296 USD/tấn. Diễn biến này cho thấy cạnh tranh về giá trên thị trường xuất khẩu vẫn đáng chú ý, đặc biệt đối với các phân khúc gạo thường.

Mở rộng thị trường để gia tăng giá trị gạo Việt

Về kết quả xuất khẩu, 7 tháng năm 2026, Việt Nam đưa ra thị trường quốc tế khoảng 5,5 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 2,64 tỷ USD. So với cùng kỳ năm trước, lượng xuất khẩu tăng 0,5%, nhưng giá trị giảm 6,7%, phản ánh mặt bằng giá xuất khẩu bình quân chịu áp lực giảm. Châu Á tiếp tục đóng vai trò là thị trường tiêu thụ chính, trong đó Philippines chiếm 44,7% tổng kim ngạch, Trung Quốc chiếm 19,1% và Ghana chiếm 9,6%.

Nhìn về ngắn hạn, thị trường lúa gạo ĐBSCL nhiều khả năng tiếp tục phân hóa giữa các phân khúc. Nguồn lúa giảm có thể tạo lực hỗ trợ nhất định đối với giá lúa tươi, nhưng sức mua chậm sẽ hạn chế khả năng tăng mạnh. Đối với gạo nguyên liệu, diễn biến xuất khẩu và nhu cầu thu mua của doanh nghiệp sẽ tiếp tục là yếu tố quyết định. Đồng thời, chênh lệch giá giữa Việt Nam với Thái Lan và Ấn Độ cũng cần được theo dõi sát, bởi đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Được biết, các doanh nghiệp gạo Việt đang từng bước mở rộng thị trường, giảm phụ thuộc vào thị trường truyền thống và nâng tỷ trọng gạo chất lượng cao.

Thông tin về thị trường Philippines không áp lệnh cấm nhập khẩu mới - đây là tín hiệu lạc quan, mở thêm cơ hội để các doanh nghiệp tiếp tục xuất khẩu vào thị trường này. Tuy nhiên các doanh nghiệp gạo đang giảm dần sự phụ thuộc vào thị trường truyền thống, mở rộng sang các thị trường lợi thế hơn. Đây cũng là định hướng chung của ngành gạo Việt Nam. Có như vậy mới chủ động về giá đàm phán với đối tác và nâng cao được giá trị hạt gạo.

Một doanh nghiệp gạo tại Vĩnh Long cho biết, năm nay, kế hoạch của công ty chỉ xuất khoảng 10.000 tấn gạo sang thị trường Philippines, giảm nhiều so với các năm trước. Thay vào đó, doanh nghiệp tập trung theo hướng tăng tỷ trọng các dòng gạo chất lượng cao, chủ động tìm kiếm thêm đối tác. Bởi với ngành hàng chịu tác động lớn từ chính sách nhập khẩu của từng quốc gia, mở rộng thị trường chính là cách giảm rủi ro và nâng sức cạnh tranh.

Ngoài ra, các doanh nghiệp Việt Nam còn đang đẩy mạnh khai thác các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký. Hiện nay, Việt Nam triển khai 16 FTA với các nước. Điển hình, Mexico đã đưa thuế về 0% hoặc 5-10%, tùy mặt hàng. Canada là 0%. Vương quốc Anh cam kết cho Việt Nam 13.000 tấn gạo với thuế 0%. Châu Âu dành cho Việt Nam 80.000 tấn gạo.

Thay vì chỉ chạy theo nhu cầu ngắn hạn, doanh nghiệp đang xây dựng vùng nguyên liệu ổn định và phát triển những dòng gạo có giá trị cao. Đây cũng là hướng đi phù hợp với quá trình tái cơ cấu ngành hàng lúa gạo, giảm dần sự phụ thuộc vào phân khúc giá thấp.

Khi doanh nghiệp chủ động giữ đơn hàng, ưu tiên gạo chất lượng cao và chia sẻ trách nhiệm với nông dân, mục tiêu ổn định giá lúa sẽ không chỉ là giải pháp trước mắt, mà còn là nền tảng để nâng giá trị hạt gạo Việt Nam trên thị trường thế giới.

Theo số liệu của Cục Hải quan, trong nửa đầu tháng 8/2026, Việt Nam xuất khẩu 230.273 tấn gạo. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/8, tổng lượng gạo xuất khẩu đạt khoảng 5,73 triệu tấn.

Thị trường gạo thế giới những tháng cuối năm có thể tiếp tục biến động do thời tiết, thiếu nước và bất ổn địa chính trị. Trong bối cảnh nhiều nước tăng dự trữ để bảo đảm an ninh lương thực, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Việt Nam được đánh giá có thể xuất khẩu thêm khoảng 2-2,5 triệu tấn gạo từ nay đến cuối năm.

Gạo nguyên liệu giảm, trong đó gạo CL 555 giảm mạnh, giá lúa đi ngang cuối tuần

Gạo nguyên liệu giảm, trong đó gạo CL 555 giảm mạnh, giá lúa đi ngang cuối tuần

Trong khi giá lúa tươi cơ bản ổn định do nhu cầu thu mua chậm, một số loại gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu giảm vào ngày cuối tuần hôm nay (22/8), trong đó gạo CL 555 giảm mạnh 150 đồng/kg.

Giá một số loại lúa tươi tăng, giảm trái chiều, gạo nguyên liệu xuất khẩu điều chỉnh nhẹ

Giá một số loại lúa tươi tăng, giảm trái chiều, gạo nguyên liệu xuất khẩu điều chỉnh nhẹ

Trong bối cảnh nhu cầu quốc tế chưa có sự bứt phá rõ ràng, giá gạo Việt Nam nhiều khả năng tiếp tục duy trì ổn định trong ngắn hạn. Diễn biến đơn hàng xuất khẩu, tốc độ thu mua nguyên liệu của doanh nghiệp và lượng lúa đưa ra thị trường sẽ tiếp tục là những yếu tố quyết định xu hướng giá trong thời gian tới.

Giá lúa tươi gần như đi ngang, gạo nguyên liệu IR 504 tăng 100 đồng/kg và OM 380 tăng 50 đồng/kg

Giá lúa tươi gần như đi ngang, gạo nguyên liệu IR 504 tăng 100 đồng/kg và OM 380 tăng 50 đồng/kg

Thị trường lúa gạo ngày 20/8 tiếp tục duy trì trạng thái ổn định nhưng có sự phân hóa. Giá lúa tươi gần như đi ngang, trong khi gạo nguyên liệu IR 504 tăng 100 đồng/kg và OM 380 tăng 50 đồng/kg. Giá gạo thành phẩm, bán lẻ và xuất khẩu chưa có thay đổi đáng kể.

Lúa giữ giá, gạo nguyên liệu xuất khẩu tăng, nhiều nước tăng nhập gạo trước El Nino

Lúa giữ giá, gạo nguyên liệu xuất khẩu tăng, nhiều nước tăng nhập gạo trước El Nino

Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long ngày 19/8 nhìn chung ổn định. Trước dự báo El Nino có thể quay trở lại và mạnh nhất trong hơn 70 năm qua, nhiều quốc gia đang chủ động tăng dự trữ lương thực, trong đó có gạo.

Thị trường lúa gạo giao dịch trầm lắng, nông dân chưa chịu áp lực bán mạnh

Thị trường lúa gạo giao dịch trầm lắng, nông dân chưa chịu áp lực bán mạnh

Thị trường lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long ngày 18/8 tiếp tục giao dịch trầm lắng. Nguồn cung lúa tương đối dồi dào nhưng nông dân chưa chịu áp lực bán mạnh, trong khi thương lái và doanh nghiệp chủ yếu thu mua theo nhu cầu thực tế.