Một xã vùng cao ở Lào Cai quyết tâm tìm lối ra cho nông nghiệp

+ aA -
Mùa Xuân - Lưu Hoà

10/02/2026 18:13 GMT +7

Những ngày giáp Tết, khi sương sớm còn bảng lảng trên các triền đồi, xã Cao Sơn, tỉnh Lào Cai hiện ra với màu xanh của chè trải dài từ thung lũng lên sườn núi, xen lẫn những nếp nhà mới vừa kịp hoàn thiện trước mùa xuân. Ở vùng đất từng là lõi nghèo của Lào Cai, việc tìm lối ra cho nông nghiệp đã và đang được cấp uỷ, chính quyền địa phương nỗ lực triển khai...

Những đồi chè xanh mướt, trải dài trên các sườn núi ở Cao Sơn (Lào Cai) đang mang lại sinh kế ổn định cho hàng trăm hộ dân ở xã vùng cao này. Ảnh: Mùa Xuân.

Sau sáp nhập, Cao Sơn kỳ vọng mới cho nông nghiệp

Xã Cao Sơn mới hôm nay được sắp xếp, sáp nhập toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của 4 xã vùng cao gồm Lùng Khấu Nhin, Cao Sơn, La Pan Tẩn và Tả Thàng (huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai cũ).

Sau sáp nhập, Cao Sơn trở thành xã có quy mô lớn với diện tích hơn 164,5km², dân số trên 14.000 người, sinh sống tại 33 thôn đặc biệt khó khăn.

Việc sáp nhập không chỉ mở ra không gian phát triển mới, mà đặt ra bài toán về tổ chức lại sản xuất nông nghiệp, tạo sinh kế bền vững và giảm nghèo cho một địa bàn vùng cao còn nhiều gian khó.

Nông nghiệp vẫn là trụ cột sinh kế của đa số người dân Cao Sơn. Đất đai rộng, khí hậu mát mẻ, phù hợp với nhiều loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế.

Thế nhưng, những năm qua, nông nghiệp nơi đây vẫn còn gặp không ít khó khăn do sản xuất manh mún, thiếu liên kết, được mùa mất giá, phụ thuộc gần như hoàn toàn vào tư thương.

Cao Sơn đưa các giống cây trồng có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất nhằm nâng cao kinh tế cho người dân. Ảnh: Lưu Hoà.

Trong cơ cấu nông nghiệp của Cao Sơn, cây chè đang giữ vai trò là cây trồng chủ lực. Toàn xã hiện có hơn 1.200ha chè, trong đó, khoảng 800–900ha đang cho thu hoạch.

Năm 2025, sản lượng chè đạt khoảng 5.865 tấn, mang lại giá trị hơn 35 tỷ đồng, con số không nhỏ đối với một xã vùng cao.

Gia đình chị Hoàng Thị Là, thôn Lù Suối Tủng, xã Cao Sơn là một trong hàng trăm hộ dân gắn bó với cây chè nhiều năm nay.

Chị Là chia sẻ: Trước đây, gia đình tôi chủ yếu trồng ngô, trồng lúa nương, thu nhập bấp bênh lắm. Từ khi chuyển sang trồng chè, cuộc sống ổn định hơn, có tiền cho con cái đi học, không còn nỗi lo thiếu ăn như trước.

Nông dân xã Cao Sơn giúp nhau chăm sóc chè. Ảnh: Lưu Hoà.

Thực tế cho thấy, phần lớn diện tích chè ở Cao Sơn hiện nay là chè Shan tuyết trồng mới, sinh trưởng nhanh, năng suất khá nhưng chất lượng chưa đồng đều.

Diện tích chè Shan tuyết cổ thụ, dòng chè đặc sản có giá trị cao, diện tích chỉ có khoảng 16ha, phân bố rải rác ở một số thôn vùng cao.

Việc thiếu cơ sở chế biến sâu, thiếu thương hiệu mạnh, khiến sản phẩm chè Cao Sơn chủ yếu vẫn bán dưới dạng nguyên liệu thô.

Khi thị trường biến động, người trồng chè dễ rơi vào cảnh bị ép giá. Nhà máy chế biến chè hiện có trên địa bàn hoạt động kém hiệu quả, công nghệ chưa được cải tiến, chưa tạo được chuỗi giá trị bền vững.

Tuy nhiên, nhìn thẳng vào thực tế, đất đai không thiếu, lao động không thiếu, cây trồng vật nuôi cũng đa dạng, nhưng nông nghiệp Cao Sơn vẫn chưa tạo được bước đột phá.

Nguyên nhân lớn nhất không nằm ở điều kiện tự nhiên, mà ở tổ chức sản xuất và liên kết thị trường cho đầu ra sản phẩm.

Những gốc chè Shan tuyết cổ thụ hàng trăm năm tuổi ở thôn Sú Dí Phìn được người dân khoanh nuôi, bảo vệ như “báu vật” của núi rừng, hướng tới phát triển du lịch trải nghiệm gắn với nông nghiệp. Ảnh: Mùa Xuân.

Toàn xã hiện chỉ có 1 HTX đã dừng hoạt động và 13 tổ hợp tác nông nghiệp quy mô nhỏ. Khi không có bà đỡ đủ mạnh, người dân khó tiếp cận doanh nghiệp, khó xây dựng mã số vùng trồng, càng khó ký kết hợp đồng tiêu thụ ổn định.

Nhiều loại cây trồng có giá trị như chuối, quýt, sa nhân được mở rộng diện tích nhưng đầu ra vẫn phụ thuộc thương lái. Riêng cây sa nhân của xã hiện có 237ha, sản lượng 71 tấn, giá trị hơn 5,5 tỷ đồng, song giá cả bấp bênh, rủi ro cao.

Tổng đàn gia súc của xã khoảng 11.300 con, sản lượng thịt hơi đạt 835 tấn, nhưng chủ yếu vẫn là chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán, chưa hình thành vùng chăn nuôi tập trung, an toàn sinh học.

Quyết tâm tìm lối ra cho nông nghiệp vùng cao

Ông Trần Hoàng Anh, Chủ tịch UBND xã Cao Sơn cho biết: Một trong những rào cản lớn nhất đối với phát triển nông nghiệp và thu hút đầu tư vào Cao Sơn chính là hạ tầng giao thông.

Tuyến tỉnh lộ từ thành phố Lào Cai (cũ) dẫn vào trung tâm xã dài khoảng 90km, nhưng mất gần 2 giờ di chuyển.

Toàn xã có hơn 241km đường giao thông nông thôn, nhiều tuyến đã xuống cấp, mặt đường hẹp, dốc cao, ô tô đi lại khó khăn.

Trong khi đó, Cao Sơn là xã lõi nghèo, chi phí đầu tư hạ tầng rất lớn do vật liệu phải vận chuyển từ xa, khiến bài toán cải thiện giao thông càng thêm nan giải.

Trước thực trạng đó, cấp ủy, chính quyền xã Cao Sơn xác định, muốn nông nghiệp phát triển bền vững, phải tổ chức lại sản xuất và thu hút doanh nghiệp.

“Xã đang tích cực kêu gọi đầu tư, đặt mục tiêu có ít nhất 3 nhà máy chế biến chè để đảm bảo đầu ra ổn định cho người dân. Hiện đã có 2 doanh nghiệp làm thủ tục đầu tư tại khu vực Lùng Khấu Nhin và Ngải Phóng Chồ”. Ông Trần Hoàng Anh, Chủ tịch UBND xã Cao Sơn khẳng định.

Song song với đó, Cao Sơn xác định hướng đi dài hơi là bảo tồn diện tích chè Shan tuyết cổ thụ gắn với phát triển du lịch trải nghiệm, nâng giá trị sản phẩm thay vì chỉ chạy theo sản lượng.

Ngoài chè, xã tiếp tục đẩy mạnh phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng hàng hoá; phát triển giống lúa Séng Cù, giống lúa chất lượng cao đã có doanh nghiệp thu mua ngay tại ruộng.

Thí điểm trồng cây ăn quả ôn đới, cây dược liệu, kiên quyết chỉ mở rộng diện tích khi có doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm.

Người dân xã Cao Sơn thu hái chè Shan tuyết. Ảnh: Mùa Xuân.

Dẫn chúng tôi men theo lối mòn lên đồi chè Shan tuyết cổ thụ, ông Thào Sùng, năm nay đã hơn 60 tuổi, thôn Sú Dí Phìn (xã Tả Thàng cũ), không giấu được niềm tự hào. Những gốc chè to sừng sững, thân phủ rêu phong, có tuổi đời gấp hai, thậm chí ba lần tuổi của ông, lặng lẽ đứng giữa núi rừng.

“Gia đình tôi có khoảng 1ha chè Shan tuyết cổ thụ. Chè phát triển hoàn toàn tự nhiên, không dùng thuốc bảo vệ thực vật. Bà con chỉ phát cỏ bằng liềm để giữ đất, giữ cây”, ông Sùng chia sẻ.

Bà con thôn Sú Dí Phìn mong muốn có đầu ra ổn định hơn cho loại chè đặc sản này, bởi nếu thời tiết thuận lợi, mỗi năm gia đình ông Sùng sẽ thu hái hơn 1 tấn chè búp tươi, mang lại thu nhập ổn định, cao gấp nhiều lần so với trồng ngô, lúa nương trước đây.

Hỗ trợ bà con giống vật nuôi để tạo sinh kế bền vững. Ảnh: Lưu Hoà.

Trong sắc xuân lan tỏa khắp núi rừng, người dân Cao Sơn hiểu rằng chỉ khi thay đổi cách làm, tổ chức lại sản xuất và gắn chặt với thị trường tiêu thụ sản phẩm, những nương chè xanh mới thực sự trở thành đầu tàu kéo vùng cao này vươn lên ấm no hơn.