Một số loại lúa tươi và gạo nguyên liệu lại giảm, giao dịch chậm
26/08/2026 13:53 GMT +7
Thị trường lúa gạo ngày 26/8 chưa cho thấy tín hiệu cải thiện rõ rệt về giao dịch. Giá lúa tươi và một số loại gạo nguyên liệu điều chỉnh giảm trong bối cảnh nhu cầu mua tại nhiều vùng nguyên liệu còn yếu, trong khi giá gạo bán lẻ và xuất khẩu vẫn tương đối ổn định.
Giá lúa gạo hôm nay 26/8
Thị trường lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long ngày 26/8 tiếp tục trầm lắng khi hoạt động mua bán tại nhiều địa phương diễn ra chậm. Giá một số loại lúa tươi và gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu giảm, trong khi mặt bằng giá gạo bán lẻ và nếp nhìn chung ổn định.
Trung tâm Thông tin Công Nghiệp và Thương mại (VITIC) cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, lúa tươi OM 5451 giảm 100 đồng/kg so với trước, xuống còn 6.500-6.600 đồng/kg. Lúa OM 34 cũng giảm 100 đồng/kg, dao động 6.000-6.100 đồng/kg; OM 18 giảm tương tự, còn 6.800-7.000 đồng/kg.
Các loại lúa khác chưa ghi nhận điều chỉnh đáng kể. Đài Thơm 8 được thu mua ở mức 6.800-7.000 đồng/kg, trong khi IR 50404 dao động 6.300-6.400 đồng/kg.
Thanh khoản tại các vùng nguyên liệu khá thấp. Tại An Giang, nhu cầu hỏi mua mới giảm, khiến giá lúa tươi điều chỉnh nhẹ. Đồng Tháp ghi nhận lượng giao dịch lúa mới yếu, một số bạn hàng tạm dừng mua. Trong khi đó, tại Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long và Tây Ninh, hoạt động mua bán vẫn hạn chế và giá cơ bản ổn định.

Ở phân khúc gạo nguyên liệu, giá IR 504 và CL 555 cùng giảm 50 đồng/kg, xuống 9.450-9.500 đồng/kg.
Các loại gạo nguyên liệu khác duy trì mức giá tương đối ổn định. OM 5451 được giao dịch quanh 9.300-9.400 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.700-8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 khoảng 9.200-9.400 đồng/kg. Gạo nguyên liệu OM 380 và Sóc thơm cùng dao động 7.500-7.600 đồng/kg.
Đối với phụ phẩm, mặt bằng giá phổ biến từ 7.450-8.750 đồng/kg. Tấm thơm được giao dịch ở mức 8.600-8.750 đồng/kg, trong khi giá cám tăng 100 đồng/kg lên 7.550-7.650 đồng/kg.
Tại thị trường bán lẻ, giá các loại gạo không có nhiều thay đổi. Nàng Nhen tiếp tục thuộc nhóm có giá cao, khoảng 28.000 đồng/kg; Hương Lài ở mức 22.000 đồng/kg; Nàng Hoa khoảng 21.000 đồng/kg. Gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000-22.000 đồng/kg.
Một số loại gạo phổ biến khác gồm Jasmine 16.500-18.000 đồng/kg, Đài Thơm 15.500-17.000 đồng/kg, gạo trắng thông dụng khoảng 16.000 đồng/kg và gạo thường 13.500-15.500 đồng/kg. Gạo Sóc thường ở mức 14.000-15.000 đồng/kg, Sóc Thái khoảng 20.000 đồng/kg, gạo Nhật 22.000 đồng/kg và OM 18 khoảng 15.500-16.500 đồng/kg.
Phân khúc nếp tiếp tục ổn định. Nếp 3 tháng khô dao động 9.600-9.700 đồng/kg, còn nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300-7.500 đồng/kg.
Giá gạo xuất khẩu Việt Nam đi ngang. Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục giữ ổn định. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm được chào bán ở mức 500-505 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm khoảng 370-374 USD/tấn; gạo Jasmine dao động 538-542 USD/tấn.
Tại Thái Lan, gạo 5% tấm được giao dịch quanh 450-454 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm ở mức 374-378 USD/tấn.
Giá gạo 5% tấm của Ấn Độ thấp hơn, dao động 360-364 USD/tấn. Gạo 100% tấm của nước này ở mức 292-296 USD/tấn.
Nhìn chung, thị trường lúa gạo ngày 26/8 chưa cho thấy tín hiệu cải thiện rõ rệt về giao dịch. Giá lúa tươi và một số loại gạo nguyên liệu điều chỉnh giảm trong bối cảnh nhu cầu mua tại nhiều vùng nguyên liệu còn yếu, trong khi giá gạo bán lẻ và xuất khẩu vẫn tương đối ổn định.
Theo số liệu của Cục Hải quan Việt Nam, trong quý II/2026, xuất khẩu gạo của Việt Nam đạt 2,74 triệu tấn, trị giá 1,3 tỷ USD, tăng 14% về lượng và 5,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, Việt Nam đã xuất khẩu hơn 5 triệu tấn gạo, với kim ngạch 2,4 tỷ USD, tăng 6,5% về lượng nhưng giảm 2,5% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.
Giá gạo xuất khẩu bình quân của Việt Nam trong tháng 6 tiếp tục tăng 4,3% so với tháng trước, lên 497 USD/tấn – mức cao nhất ghi nhận được trong 7 tháng qua, kể từ tháng 12/2025. Trong quý II, giá gạo xuất khẩu bình quân đạt khoảng 477 USD/tấn, tăng 1,4% so với quý I nhưng vẫn giảm 7,2% so với quý II/2025.
Còn trong 7 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 5,5 triệu tấn gạo, trị giá khoảng 2,64 tỷ USD; lượng tăng khoảng 0,5% nhưng kim ngạch giảm 6,7% so với cùng kỳ.
Theo số liệu của Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp & Môi trường), tính đến đầu tháng 8/2026, vụ hè thu 2026 các tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL đã thu hoạch được khoảng 442.000ha với năng suất khoảng 61,68 tạ/ha, sản lượng ước đạt 2,72 triệu tấn lúa. Vụ Thu Đông 2026 đã xuống giống 256.000ha/640.000ha diện tích kế hoạch, đạt gần 40%.
Với sự xuất hiện của El Nino, nhu cầu nhập khẩu và giá gạo dự báo sẽ tiếp tục tăng vào cuối năm nay. Theo USDA, xuất khẩu gạo của Việt Nam trong năm 2026 dự báo đạt 8,1 triệu tấn, tăng 200.000 tấn so với dự báo trước đó và tương đương năm 2025.
Trước dự báo El Nino có thể quay trở lại và mạnh nhất trong hơn 70 năm qua, nhiều quốc gia đang chủ động tăng dự trữ lương thực, trong đó có gạo.
Động thái này được kỳ vọng sẽ tạo thêm dư địa cho các nước xuất khẩu gạo lớn như Việt Nam. Philippines tiếp tục là thị trường nhập gạo của nước ta nhiều nhất, chiếm gần 45% sản lượng xuất khẩu 7 tháng qua, tiếp đến là Trung Quốc 19%. Đầu tháng 8, Bộ Nông nghiệp Philippines thông tin sẽ không áp lệnh cấm nhập khẩu đến cuối năm để chuẩn bị nguồn gạo ứng phó với El Nino. Đây cũng là cơ hội cho các doanh nghiệp trong việc xuất khẩu sang thị trường này với giá tốt. Cùng với đó, các thị trường châu Á khác cũng được dự báo tiếp tục quan tâm đến gạo chất lượng cao, an toàn và có nguồn cung ổn định.
Thị trường gạo thế giới những tháng cuối năm có thể tiếp tục biến động do thời tiết, thiếu nước và bất ổn địa chính trị. Trong bối cảnh nhiều nước tăng dự trữ để bảo đảm an ninh lương thực, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Việt Nam được đánh giá có thể xuất khẩu thêm khoảng 2-2,5 triệu tấn gạo từ nay đến cuối năm.
Xem thêm
Gạo nguyên liệu giảm, trong đó gạo CL 555 giảm mạnh, giá lúa đi ngang cuối tuần
Trong khi giá lúa tươi cơ bản ổn định do nhu cầu thu mua chậm, một số loại gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu giảm vào ngày cuối tuần hôm nay (22/8), trong đó gạo CL 555 giảm mạnh 150 đồng/kg.
Giá một số loại lúa tươi tăng, giảm trái chiều, gạo nguyên liệu xuất khẩu điều chỉnh nhẹ
Trong bối cảnh nhu cầu quốc tế chưa có sự bứt phá rõ ràng, giá gạo Việt Nam nhiều khả năng tiếp tục duy trì ổn định trong ngắn hạn. Diễn biến đơn hàng xuất khẩu, tốc độ thu mua nguyên liệu của doanh nghiệp và lượng lúa đưa ra thị trường sẽ tiếp tục là những yếu tố quyết định xu hướng giá trong thời gian tới.
Giá lúa tươi gần như đi ngang, gạo nguyên liệu IR 504 tăng 100 đồng/kg và OM 380 tăng 50 đồng/kg
Thị trường lúa gạo ngày 20/8 tiếp tục duy trì trạng thái ổn định nhưng có sự phân hóa. Giá lúa tươi gần như đi ngang, trong khi gạo nguyên liệu IR 504 tăng 100 đồng/kg và OM 380 tăng 50 đồng/kg. Giá gạo thành phẩm, bán lẻ và xuất khẩu chưa có thay đổi đáng kể.
Lúa giữ giá, gạo nguyên liệu xuất khẩu tăng, nhiều nước tăng nhập gạo trước El Nino
Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long ngày 19/8 nhìn chung ổn định. Trước dự báo El Nino có thể quay trở lại và mạnh nhất trong hơn 70 năm qua, nhiều quốc gia đang chủ động tăng dự trữ lương thực, trong đó có gạo.
Thị trường lúa gạo giao dịch trầm lắng, nông dân chưa chịu áp lực bán mạnh
Thị trường lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long ngày 18/8 tiếp tục giao dịch trầm lắng. Nguồn cung lúa tương đối dồi dào nhưng nông dân chưa chịu áp lực bán mạnh, trong khi thương lái và doanh nghiệp chủ yếu thu mua theo nhu cầu thực tế.









