Một ông nông dân Thái Nguyên nuôi con đặc sản này, mỗi ngày chỉ cho ăn 1 bữa, giá bán tới 1,8 triệu/kg
11/08/2026 17:47 GMT +7
Từ vài cặp cầy giống ban đầu, ông Ma Công Sự, xóm Na Rang, xã Nghinh Tường, tỉnh Thái Nguyên từng bước gây dựng đàn cầy hương, kết hợp nuôi sinh sản và thương phẩm, mở ra hướng chăn nuôi có giá trị kinh tế cao.
- Trồng ổi chưa đủ, nông dân Thái Nguyên cứ thấy đất trống là cắm sả, quanh năm có thứ để bán
- Nuôi lợn rừng bằng thức ăn sẵn có, một ông nông dân Thái Nguyên vượt qua hai lần suýt vỡ nợ ra sao?
- Nông dân Thái Nguyên học cách quay video, livestream, tạo sản phẩm giới thiệu, quảng bá, đưa nông sản lên "chợ số"
Quyết nuôi cầy sau những chuyến học nghề
Sinh ra trong một gia đình nghèo, lại từng là bộ đội, ông Ma Công Sự đã trải qua nhiều công việc chăn nuôi trước khi tìm được hướng đi phù hợp với điều kiện của gia đình.
Khoảng năm 2013-2014, ông Sự bắt đầu nuôi dê. Thời điểm đó, ông nhận thấy dê là vật nuôi có triển vọng. Tuy nhiên, khi diện tích chăn thả ngày càng thu hẹp, mô hình này dần bộc lộ những hạn chế.
Bước ngoặt đến khoảng năm 2020, khi đang công tác ở huyện, ông Sự có điều kiện đi tham quan, tìm hiểu nhiều mô hình chăn nuôi tại cơ sở. Qua những chuyến đi, ông đặc biệt chú ý đến cách làm kinh tế của những cựu chiến binh.
“Nhiều anh em cựu chiến binh còn khó khăn, nhưng họ vẫn làm được trang trại. Tôi nghĩ người ta làm được thì mình cũng có thể làm được, quan trọng là phải chịu khó học hỏi”, ông Sự chia sẻ.

Nghĩ là làm, ông dành nhiều thời gian tìm đến các trang trại để học hỏi kinh nghiệm. Có nơi ông ở lại cả tháng để tìm hiểu kỹ thuật chăm sóc, cách xây dựng đàn cũng như hiệu quả kinh tế của từng loại vật nuôi.
Trong số những mô hình từng tham quan, mô hình nuôi cầy hương khiến ông đặc biệt ấn tượng. Ông nhận thấy, dù quy mô lớn nhưng phương thức chăm sóc cầy không quá phức tạp. Đáng chú ý, có lần ông chứng kiến một chiếc xe bán tải chở khoảng 6-7 con cầy đi bán với tổng giá trị hơn 120 triệu đồng.
“Tôi thấy giá trị kinh tế của con vật này khá cao, trong khi cách nuôi không quá phức tạp. Từ đó tôi quyết tâm tìm hiểu và làm thử”, ông Sự kể.
Tháng 10/2024, sau khi được cấp phép, ông chính thức xây dựng mô hình trang trại. Cầy mốc và cầy hương trở thành hai vật nuôi chủ lực. Ban đầu, ông mua 4 cặp, tổng cộng 8 con. Tuy nhiên, quá trình khởi đầu không phải lúc nào cũng thuận lợi. Một con bị ốm chết, một con khác xổng mất, đàn chỉ còn vài con.
Không bỏ cuộc, ông tiếp tục gây dựng lại đàn. Đến năm 2025, ông tìm xuống khu vực Bắc Sơn, Phổ Yên, Thái Nguyên (cũ) để trao đổi kinh nghiệm, đồng thời mua thêm 2-3 đôi cầy hương. Ông ưu tiên lựa chọn những con đã mang thai để rút ngắn thời gian gây đàn. Sau khoảng 2-3 tháng đưa về, những con cầy này bắt đầu sinh sản. Đến nay, đàn cầy hương của gia đình ông Sự đã có gần 20 con.
Nuôi cầy không quá khó, quan trọng là hiểu tập tính
Theo ông Sự, một trong những ưu điểm lớn của cầy là không đòi hỏi quá nhiều diện tích hay công chăm sóc nếu người nuôi nắm được đặc tính của chúng.
“Cầy không phải con vật quá khó nuôi. Cái quan trọng nhất là phải hiểu tập tính của nó và nắm được khẩu phần dinh dưỡng phù hợp”, ông nói.

Thức ăn của cầy cũng được ông Sự tận dụng theo hướng đơn giản, dễ kiếm. Hằng ngày, cầy được cho ăn cháo đầu gà, chuối, cá. Đây là những loại thức ăn đàn cầy khá thích. Mỗi ngày chỉ cho ăn một bữa nên theo ông Sự, công chăm sóc không quá nhiều.
Đặc biệt, cầy cần được tập cho quen với nhiều loại thức ăn. Những con mới đưa về có thể chưa chịu ăn, nhưng nếu được huấn luyện dần dần sẽ thích nghi.
Về thời gian nuôi, cầy mốc khoảng 12 tháng có thể đạt trọng lượng khoảng 5kg, trong khi cầy hương thường đạt 3,5-4kg. Thông thường, sau khoảng một năm là có thể xuất bán.
Tuy nhiên, ông Sự không lựa chọn cách vỗ béo quá nhanh. Theo kinh nghiệm của ông, nếu ép vật nuôi tăng trọng nhanh, chất lượng thịt sẽ không ngon. Vì vậy, ông chủ yếu nuôi theo hướng tự nhiên, kéo dài thời gian nuôi hơn để bảo đảm chất lượng.
Trên thị trường hiện nay, cầy mốc thương phẩm có giá khoảng 1,6 triệu đồng/kg, cầy hương khoảng 1,8 triệu đồng/kg. Với cầy giống, giá phụ thuộc vào thời điểm và độ tuổi; những cặp khoảng 3-4 tháng tuổi có thể có giá khoảng 11-12 triệu đồng/cặp.
Đây cũng là lý do ông Sự không chỉ hướng đến nuôi thương phẩm mà xây dựng đàn theo hướng kết hợp giữa sinh sản và thương phẩm.
Những con có đặc điểm phù hợp được tuyển chọn để giữ lại làm bố mẹ; những con không nằm trong nhóm tuyển chọn sẽ chuyển sang nuôi thương phẩm.
“Nuôi sinh sản và thương phẩm phải gắn với nhau. Muốn đàn phát triển lâu dài thì phải có quá trình tuyển chọn, chứ không phải thích con nào là giữ lại con đó”, ông Sự cho biết.
Nuôi thêm hươu, mở rộng nguồn thu
Cùng với cầy, năm 2025, ông Sự bắt đầu đưa hươu vào nuôi, tạo thêm một hướng sản xuất trong trang trại.

Để có đàn giống phù hợp, ông nhiều lần vào Hương Sơn, Hà Tĩnh tìm hiểu và lựa chọn. Ban đầu, ông mua 5 con đực và 4 con cái, tổng cộng 9 con. Những con hươu này khi mua về đã có khả năng sinh sản và khai thác nhung.
Sau đó, đàn hươu sinh thêm 4 con, nâng tổng đàn hiện nay lên 13 con.
Từ sau Tết Bính Ngọ 2026, khoảng tháng 3-4, ông bắt đầu khai thác nhung. Đợt vừa qua, 5 con hươu cho khai thác nhung, con thấp nhất đạt khoảng 5 lạng, con cao nhất khoảng 1,1kg. Tổng số tiền thu được từ bán nhung hươu khoảng 70 triệu đồng, với giá bán trung bình 20 triệu đồng/kg. Bên cạnh đó, việc bán hươu giống cũng góp phần tăng thêm thu nhập cho gia đình ông sự khoảng 60 triệu đồng.

Ban đầu, chi phí ông Sự bỏ ra để mua hươu giống gần 300 triệu đồng. Với khoảng 70 triệu đồng tiền nhung đã thu được cùng tiền bán con giống, ông ước tính nếu thuận lợi, sang năm có thể thu hồi phần lớn vốn đầu tư.
Điều mà ông Sự nhìn thấy rõ nhất là triển vọng của hướng chăn nuôi này. Với cầy, hiện đang được ông gây dựng theo cả hai hướng sinh sản và thương phẩm; với hươu, sản phẩm nhung tạo dòng thu nhập, đồng thời đàn con sinh ra sẽ tiếp tục làm gia tăng giá trị vật nuôi.
Theo ông Sự, khi hươu trưởng thành hơn, sản lượng nhung những năm sau có thể ổn định và tăng lên. “Tôi vẫn còn phải học hỏi nhiều. Nhưng so với những vật nuôi từng chăn trước đây, tôi thấy cầy và hươu có triển vọng, nhất là khi mình chăm sóc đúng kỹ thuật và tìm được đầu ra ổn định”, ông Sự nói.

Từ một người từng bắt đầu chăn nuôi với nhiều khó khăn, ông Ma Công Sự đang từng bước biến khu trang trại ở Na Rang thành mô hình chăn nuôi kết hợp. Trong đó, cầy hương là vật nuôi ông đặt nhiều kỳ vọng.
Điểm đặc biệt của mô hình này không chỉ nằm ở giá trị thương phẩm, mà còn ở cách người nông dân chủ động xây dựng đàn giống, tuyển chọn con bố mẹ và tận dụng quá trình sinh sản để tạo nguồn vật nuôi thương phẩm.
Với ông Sự, hành trình ấy vẫn đang ở những bước đầu. Nhưng từ vài con cầy giống ban đầu, đàn vật nuôi đã từng bước được gây dựng, mở ra thêm một lựa chọn sinh kế cho người dân vùng núi nếu có điều kiện, kỹ thuật và đầu ra phù hợp.
Đây là con vật "một mình một chuồng" nuôi thành công ở Lạng Sơn, chi phí rẻ, giá bán cả triệu đồng/kg?
Nhạy bén nắm bắt nhu cầu thị trường, mạnh dạn phát triển kinh tế từ các loại vật nuôi đặc sản như cầy vòi mốc, cầy hương, nhiều nông dân tại Lạng Sơn đã vươn lên làm giàu, thu nhập hàng tỷ đồng mỗi năm.
Ở một xã mới này ở Hà Tĩnh, dân nuôi con đặc sản vốn là động vật vật hoang dã, chăm nhàn như ăn kẹo, nắm tiền tỷ/năm
Nhà chị Lê Thị Quyến , thôn Hợp Phát, xã Mai Hoa, tỉnh Hà Tĩnh, (trước là xã Đức Giang, huyện Vũ Quang) xây chuồng nuôi động vật hoang dã bán làm con đặc sản-cầy vòi mốc. Mô hình nuôi vật nuôi mới toanh này không chỉ đem lại thu nhập tiền tỷ gia đình chị Quyến, mà còn mở ra hướng phát triển mới cho chăn nuôi đặc sản tại địa phương.
"Đánh liều" nuôi động vật hoang dã có cặp mắt sáng long lanh, ông nông dân Quảng Ninh bán 20 triệu/cặp giống
Chỉ mới phát triển 1 năm, mô hình nuôi cầy vòi mốc (là một trong các loài động vật hoang dã, con đặc sản có nguồn gốc là động vật rừng, nuôi thương mại phải đăng ký) của ông Đỗ Hùng Đon, phường Hiệp Hòa, tỉnh Quảng Ninh đã có thu nhập tốt, hiệu quả kinh tế cao, bán 20 triệu đồng/cặp cầy vòi giống (cùng họ với chồn hương).








