Kiểm lâm “đi từng ngõ, gõ từng nhà”, đưa luật giữ rừng đến tận bản làng Thái Nguyên
12/08/2026 17:25 GMT +7
Bám sát cơ sở, đến từng hộ dân tuyên truyền, hướng dẫn pháp luật và phối hợp với chính quyền, chủ rừng trong tuần tra, bảo vệ rừng đang là cách Hạt Kiểm lâm số 14, tỉnh Thái Nguyên đưa pháp luật đến gần người dân. Qua đó, ý thức bảo vệ rừng, bảo vệ động vật hoang dã từng bước được nâng lên.
- Thái Nguyên khởi động dự án đưa AI đến gần hơn với doanh nghiệp nhỏ
- Một ông nông dân Thái Nguyên nuôi con đặc sản này, mỗi ngày chỉ cho ăn 1 bữa, giá bán tới 1,8 triệu/kg
- Trồng ổi chưa đủ, nông dân Thái Nguyên cứ thấy đất trống là cắm sả, quanh năm có thứ để bán
Đưa pháp luật đến từng thôn, bản
Sau khi Nghị định 146/2026/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 25/6/2026, Hạt Kiểm lâm số 14 (Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Nguyên) đã chủ động triển khai tuyên truyền đến UBND các xã, chủ rừng, hộ dân và các tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến khai thác, kinh doanh lâm sản, gây nuôi động vật hoang dã.
Theo ông Phan Quốc Thụ - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm số 14, đơn vị xác định tuyên truyền phải đi trước một bước, nhất là với những đối tượng trực tiếp có hoạt động liên quan đến rừng và động vật hoang dã. Kiểm lâm địa bàn được yêu cầu tăng cường phối hợp với chính quyền cơ sở, thôn, xóm, chủ rừng và các hộ gây nuôi để hướng dẫn, giải thích những quy định mới.
Việc tuyên truyền được thực hiện theo từng nhóm đối tượng, trong đó chú trọng những người có uy tín trong cộng đồng để cùng phổ biến pháp luật đến người dân. “Công tác tuyên truyền là nhiệm vụ thường xuyên và xuyên suốt, ở tất cả mọi lúc, mọi nơi”, ông Thụ cho biết.
Địa bàn Hạt Kiểm lâm số 14 quản lý rộng, với hơn 35.000 ha đất rừng, gồm rừng phòng hộ, rừng sản xuất và rừng tự nhiên. Trong đó, rừng tự nhiên chiếm phần lớn. Đây vừa là đặc thù, vừa là thách thức đối với công tác quản lý, bảo vệ rừng. Với rừng phòng hộ và rừng sản xuất là rừng trồng, người dân được khai thác khi có phương án được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Vì vậy, kiểm lâm địa bàn phối hợp với cơ quan chuyên môn hướng dẫn chủ rừng ngay từ khâu xây dựng phương án, đồng thời tăng cường kiểm tra, kiểm soát tại cơ sở.

Cùng với đó, kiểm lâm địa bàn trực tiếp xuống xã, phối hợp với chính quyền thực hiện quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng. Lực lượng kiểm lâm cũng phối hợp với lực lượng bảo vệ rừng của Ban Quản lý rừng và bảo tồn thiên nhiên tại các điểm, chốt bảo vệ rừng, nhất là trong những thời điểm nắng nóng hoặc ban đêm.

Theo ông Thụ, việc Nghị định 146 nâng mức chế tài xử phạt đã góp phần làm người dân nhận thức rõ hơn hậu quả của hành vi vi phạm. Qua tuyên truyền, người dân chủ động tìm hiểu quy định và tự giác chấp hành hơn.
Từ khi Nghị định có hiệu lực đến nay, Hạt Kiểm lâm số 14 chưa phát hiện trường hợp nào phải áp dụng xử lý theo quy định mới. Dù vậy, công tác quản lý vẫn còn khó khăn. Địa bàn rộng, rừng tự nhiên chiếm phần lớn, trong khi cơ sở vật chất của Hạt chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu. Trụ sở hiện được bố trí sử dụng tại nhà trạm trước đây; kho, bãi tạm giữ tang vật vi phạm chưa có. Trong điều kiện đó, lực lượng kiểm lâm vẫn xác định bám địa bàn, phối hợp chặt chẽ với chính quyền, chủ rừng và người dân là giải pháp quan trọng để phòng ngừa vi phạm từ cơ sở.
Ranh giới rõ, người dân thêm ý thức
Cùng với tuyên truyền pháp luật, việc xác định rõ ranh giới rừng cũng đang tạo thuận lợi cho người dân trong quá trình sản xuất và giúp lực lượng chức năng quản lý rừng hiệu quả hơn.
Ông Lê Đăng Hưng - Phó Giám đốc Ban Quản lý rừng và Bảo tồn thiên nhiên tỉnh Thái Nguyên cho biết, từ đầu năm 2026, Ban Quản lý đã phối hợp với chính quyền địa phương và các đơn vị liên quan xác định, cắm mốc ranh giới khu vực rừng đặc dụng. Đến tháng 6/2026, các mốc đã được hoàn thiện và bàn giao tại các xóm với sự tham gia của chính quyền và người dân.
Theo ông Hưng, việc cắm mốc giúp người dân nhận biết rõ ranh giới rừng đặc dụng, từ đó thuận lợi hơn trong công tác tuyên truyền, bảo vệ rừng và phòng ngừa hành vi xâm phạm.
Tại xóm Na Đồng, xã Nghinh Tường, sự thay đổi trong nhận thức của người dân được thể hiện khá rõ. Ông Hoàng Văn Ngọ - Trưởng xóm Na Đồng cho biết, những quy định mới được tuyên truyền thông qua các cuộc họp xóm, Ban Công tác Mặt trận và các đoàn thể. Người dân được giải thích về những hành vi vi phạm, mức xử phạt và trách nhiệm trong bảo vệ rừng. Đặc biệt, những khu vực nương rẫy nằm gần rừng tự nhiên trước đây có nguy cơ bị lấn chiếm thì nay người dân đã xác định rõ ranh giới. “Rừng tự nhiên thì cấm, bà con không được động đến”, ông Ngọ nói.
Theo ông, khi ranh giới giữa rừng tự nhiên và khu vực canh tác được xác định cụ thể, người dân biết rõ phần đất mình được sản xuất, không phát phá hoặc mở rộng nương vào rừng. Công tác tuần tra cũng được duy trì thường xuyên. Xóm tổ chức các tổ đi kiểm tra, bảo vệ rừng khoảng 2 lượt mỗi tháng và có thể tăng lên 3 lượt khi xuất hiện điểm nóng. Việc kiểm tra khu vực rìa rừng cũng được thực hiện thường xuyên để kịp thời phát hiện dấu hiệu bất thường.
Không chỉ thông qua các cuộc họp xóm, cán bộ kiểm lâm và lực lượng quản lý, bảo vệ rừng còn trực tiếp đến cơ sở, đến các hộ dân để tuyên truyền. Ông Ma Văn Mẫn, người dân xóm Na Đồng cho biết, thời gian qua, lực lượng kiểm lâm và Ban Quản lý rừng đặc dụng đã đến các nhà văn hóa xóm, đồng thời trực tiếp đến các hộ dân để phổ biến những quy định mới.

Là người sinh sống ở khu vực giáp ranh rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, ông chủ động tìm hiểu các quy định và tuyên truyền lại cho bà con. Theo ông Mẫn, mức xử phạt cao hơn trước có tác dụng răn đe, giúp người dân ý thức rõ hơn trách nhiệm của mình. Khi đi tuần tra, nếu phát hiện người lạ xâm nhập khu vực rừng đặc dụng, người dân sẽ báo cho chính quyền hoặc cơ quan chức năng để kịp thời xử lý.
Ý thức chấp hành pháp luật cũng được thể hiện trong câu chuyện của ông Ma Công Sự, người dân xóm Na Rang. Là người từng công tác và có điều kiện tiếp cận nhiều văn bản pháp luật, ông Sự xác định muốn phát triển mô hình gây nuôi động vật hoang dã thì trước hết phải hiểu và tuân thủ đầy đủ các quy định.

Năm 2024, ông Sự bắt đầu xây dựng trang trại nuôi cầy hương và nuôi hươu. Sau đó, khi thấy mô hình có triển vọng, ông tiếp tục mở rộng và hoàn thiện các thủ tục pháp lý. Điều ông đặc biệt quan tâm là yêu cầu pháp lý trong quá trình gây nuôi. Theo ông, từ thủ tục xây dựng phương án nuôi, phòng bệnh, vệ sinh môi trường đến việc mua bán đều phải thực hiện đúng quy định. Trong quá trình đó, ông nhận được sự hướng dẫn của kiểm lâm địa bàn.
“Là công dân thì đương nhiên phải chấp hành các quy định”, ông Sự chia sẻ, đồng thời cho rằng sự hướng dẫn cụ thể của lực lượng chức năng giúp người dân yên tâm hơn khi đầu tư phát triển kinh tế.
Ông Sự cũng mong muốn vận động những người cùng hoàn cảnh tham gia phát triển mô hình, tiến tới thành lập hợp tác xã khi đủ điều kiện. Tuy nhiên, ông cho rằng đây mới là định hướng và quá trình vận động vẫn còn khó khăn do nhiều người e ngại vốn đầu tư và rủi ro.

Từ thực tế ở cơ sở cho thấy, khi pháp luật được tuyên truyền bằng những nội dung cụ thể, gắn với công việc hằng ngày, người dân sẽ dễ hiểu và dễ thực hiện hơn. Với địa bàn rộng, diện tích rừng tự nhiên lớn, lực lượng kiểm lâm rất cần sự phối hợp của chính quyền và người dân. Ngược lại, người dân cũng cần được hướng dẫn rõ những việc được làm, không được làm và cách sản xuất đúng quy định. Vì vậy, bảo vệ rừng không chỉ là kiểm tra, xử lý vi phạm mà còn bắt đầu từ tuyên truyền, hướng dẫn và nâng cao ý thức tại từng địa bàn, từng hộ dân.
Khi người dân hiểu và tuân thủ pháp luật, chủ động giữ ranh giới rừng, không xâm hại rừng và kịp thời thông tin cho lực lượng chức năng khi phát hiện vi phạm, công tác quản lý, bảo vệ rừng sẽ hiệu quả hơn.
Tags:
Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Sơn La: Đưa nguồn tiền bảo vệ rừng thành “vốn” giúp dân thoát nghèo
Từ nguồn tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), nhiều bản vùng cao ở vùng cao Sơn La đã biết cách sử dụng hiệu quả để vừa bảo vệ rừng, vừa đầu tư sinh kế, xây dựng công trình phục vụ đời sống. Qua đó, rừng không chỉ được giữ xanh mà còn trở thành “điểm tựa” giúp đồng bào từng bước thoát nghèo.
Lào Cai: Bản Xèo gỡ "nút thắt" bảo vệ rừng tự nhiên gắn với sinh kế bền vững
Không chỉ đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người dân tháo dỡ lán tạm, hạn chế canh tác trong rừng tự nhiên, xã Bản Xèo (tỉnh Lào Cai) còn chú trọng phát triển sinh kế, khai thác hiệu quả nguồn lợi từ rừng và du lịch cộng đồng. Cách làm đồng bộ này đang tạo sự đồng thuận trong nhân dân, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ gần 3.900 ha rừng tự nhiên trên địa bàn.
Phú Thọ: Hạt Kiểm lâm Kim Bôi dựa vào dân để bảo vệ rừng bền vững
Coi rừng là tài sản vô giá của cộng đồng và lấy dân làm gốc, Hạt Kiểm lâm Kim Bôi, tỉnh Phú Thọ đã tạo nên sức mạnh tổng hợp trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, đặc biệt là trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR).








