Giá một số loại lúa tươi tăng, giảm trái chiều, gạo nguyên liệu xuất khẩu điều chỉnh nhẹ

+ aA -
Nguyễn Phương

21/08/2026 13:18 GMT +7

Trong bối cảnh nhu cầu quốc tế chưa có sự bứt phá rõ ràng, giá gạo Việt Nam nhiều khả năng tiếp tục duy trì ổn định trong ngắn hạn. Diễn biến đơn hàng xuất khẩu, tốc độ thu mua nguyên liệu của doanh nghiệp và lượng lúa đưa ra thị trường sẽ tiếp tục là những yếu tố quyết định xu hướng giá trong thời gian tới.

Giá lúa gạo hôm nay 21/8

Thị trường lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long ngày 21/8 ghi nhận diễn biến phân hóa. Giá một số loại lúa tươi tăng, giảm trái chiều, trong khi giá gạo nguyên liệu xuất khẩu điều chỉnh nhẹ. Ở thị trường bán lẻ và xuất khẩu, mặt bằng giá nhìn chung ổn định.

Trung tâm Thông tin Công Nghiệp và Thương mại (VITIC) cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi IR 50404 tăng 200 đồng/kg, lên 6.400 - 6.500 đồng/kg. Ngược lại, lúa OM 34 và OM 5451 cùng giảm 100 đồng/kg, lần lượt xuống 6.100 - 6.200 đồng/kg và 6.600 - 6.700 đồng/kg. Các loại lúa thơm như Đài Thơm 8 và OM 18 tiếp tục giữ giá tương đối tốt, lần lượt ở mức 6.900 - 7.000 đồng/kg và 6.800 - 7.000 đồng/kg.

Tại các địa phương Đồng bằng sông Cửu Long, hoạt động giao dịch vẫn khá trầm lắng. Ở Đồng Tháp, nhu cầu mua lúa mới chậm, một số thương lái tạm ngưng mua khiến giá có xu hướng giảm. Tại An Giang, lượng bạn hàng hỏi mua chưa nhiều, trong khi tại Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long và Tây Ninh, giao dịch nhìn chung yếu và giá tương đối ổn định. Diễn biến này cho thấy nguồn cung vẫn khá dồi dào, trong khi sức mua chưa đủ mạnh để tạo mặt bằng tăng mới.

Ở phân khúc gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu, giá có xu hướng điều chỉnh nhẹ. Gạo nguyên liệu IR 504 giảm 50 đồng/kg, xuống 9.700 - 9.750 đồng/kg; CL 555 giảm 50 đồng/kg, còn 9.750 - 9.850 đồng/kg. Trong khi đó, OM 5451 giữ ở 9.300 - 9.400 đồng/kg, OM 18 ở 8.700 - 8.850 đồng/kg, Đài Thơm 8 ở 9.200 - 9.400 đồng/kg, OM 380 và Sóc thơm cùng dao động 7.500 - 7.600 đồng/kg.

Diễn biến trên cho thấy sức mua đối với nguyên liệu chưa có sự cải thiện đồng đều. Một số chủng loại có thể được các nhà máy bổ sung theo nhu cầu thực tế, nhưng chưa hình thành xu hướng tăng trên diện rộng. Do đó, khả năng giá gạo nguyên liệu tăng mạnh trong ngắn hạn vẫn còn hạn chế, nhất là khi giá xuất khẩu chưa tạo được động lực mới.

Phụ phẩm và gạo bán lẻ ổn định. Giá phụ phẩm tiếp tục trong khoảng 7.350 - 8.800 đồng/kg. Trong đó, tấm thơm giảm 50 đồng/kg xuống 8.700 - 8.800 đồng/kg, còn cám giảm 100 đồng/kg, dao động 7.350 - 7.550 đồng/kg.

Tại thị trường bán lẻ, giá gạo nhìn chung đi ngang. Gạo Nàng Nhen tiếp tục có mức giá cao nhất, khoảng 28.000 đồng/kg; Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài 20.000 - 22.000 đồng/kg; Nàng Hoa 21.000 đồng/kg. Jasmine dao động 16.500 - 17.000 đồng/kg, gạo Đài thơm 15.000 - 16.000 đồng/kg và gạo trắng thông dụng khoảng 16.000 đồng/kg. Gạo thường phổ biến 13.500 - 14.500 đồng/kg.

Các loại gạo Sóc thường, Sóc Thái, gạo Nhật và OM 18 lần lượt giữ quanh 14.000 - 15.000 đồng/kg, 20.000 đồng/kg, 22.000 đồng/kg và 15.000 - 16.000 đồng/kg.

Phân khúc nếp cũng không có biến động đáng kể. Nếp IR 4625 tươi được giao dịch ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg, trong khi nếp 3 tháng khô ở mức 9.600 - 9.700 đồng/kg.

Giá gạo xuất khẩu đi ngang

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục ổn định. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm dao động 500 - 505 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm ở mức 370 - 374 USD/tấn; gạo Jasmine 538 - 542 USD/tấn.

Trên thị trường quốc tế, gạo 5% tấm của Thái Lan dao động 450 - 454 USD/tấn, thấp hơn đáng kể so với gạo thơm 5% tấm của Việt Nam nhưng vẫn cao hơn nhiều phân khúc gạo trắng phổ thông. Gạo 100% tấm của Thái Lan ở mức 374 - 378 USD/tấn.

Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm dao động 360 - 364 USD/tấn và gạo 100% tấm ở mức 292 - 296 USD/tấn. Mặt bằng giá thấp của Ấn Độ tiếp tục tạo sức ép cạnh tranh đối với các nhà xuất khẩu trong khu vực, đặc biệt ở phân khúc gạo phổ thông.

Nhìn chung, thị trường lúa gạo ngày 21/8 chưa xuất hiện tín hiệu của một đợt tăng giá đồng loạt. Ở đầu nguồn, giá lúa tươi biến động trái chiều khi IR 50404 tăng nhưng OM 34 và OM 5451 giảm. Hoạt động thu mua tại nhiều địa phương vẫn chậm, phản ánh sức mua chưa thực sự mạnh.

Trong khi đó, gạo nguyên liệu cũng chưa có xu hướng tăng rõ rệt khi IR 504 và CL 555 cùng giảm 50 đồng/kg. Giá bán lẻ ổn định cho thấy những biến động ở khâu nguyên liệu chưa tạo áp lực đáng kể lên thị trường tiêu dùng.

Đối với xuất khẩu, cạnh tranh từ nguồn cung giá thấp của Ấn Độ vẫn là yếu tố đáng chú ý. Trong bối cảnh nhu cầu quốc tế chưa có sự bứt phá rõ ràng, giá gạo Việt Nam nhiều khả năng tiếp tục duy trì ổn định trong ngắn hạn. Diễn biến đơn hàng xuất khẩu, tốc độ thu mua nguyên liệu của doanh nghiệp và lượng lúa đưa ra thị trường sẽ tiếp tục là những yếu tố quyết định xu hướng giá trong thời gian tới.

Nhìn chung, thị trường lúa gạo ngày 21/8 duy trì trạng thái ổn định là chủ đạo, nhưng có sự phân hóa giữa từng chủng loại. Lúa tươi biến động trái chiều, gạo nguyên liệu điều chỉnh nhẹ, trong khi giá gạo bán lẻ và xuất khẩu chưa có thay đổi đáng kể.

Được biết, Bộ nông nghiệp Mỹ (USDA) dự báo sản lượng gạo toàn cầu niên vụ 2026-2027 đạt 537,2 triệu tấn, giảm 0,6 triệu tấn so với dự báo của tháng trước và thấp hơn khoảng 2% so với niên vụ 2025-2026. Ngược lại, tiêu thụ gạo toàn cầu dự kiến tăng thêm 1,6 triệu tấn so với dự báo trước, lên mức kỷ lục 542,8 triệu tấn.

Theo số liệu do Bộ Thương mại Ấn Độ công bố, xuất khẩu gạo của nước trong quý II năm nay (từ tháng 4 đến tháng 6) đạt 3,03 tỷ USD, tăng 4,36% so với cùng kỳ quý II/2025. Lượng dự trữ gạo và lúa mì hiện tại của chính phủ Ấn Độ đang ở mức kỷ lục 91,6 triệu tấn, giúp giảm thiểu bất kỳ sự thiếu hụt nào trong sản lượng ngũ cốc do rủi ro El Nino gây ra.

Hiệp hội Các nhà xuất khẩu gạo Thái Lan dự báo khối lượng xuất khẩu trong năm nay có thể đạt 7,2 triệu tấn, tăng so với mục tiêu ban đầu là 7 triệu tấn. Đây được coi là một con số khả quan, mặc dù tổng xuất khẩu cả năm sẽ thấp hơn so với mức 7,9 triệu tấn của năm ngoái.

Lượng gạo nhập khẩu của Philippines trong 7 tháng đầu năm đã tăng mạnh lên mức kỷ lục hơn 3,23 triệu tấn, do tác động từ cuộc khủng hoảng dầu mỏ toàn cầu khiến chi phí nguyên liệu đầu vào tăng cao và những lo ngại về tác động của hiện tượng El Niño sắp xảy ra đối với sản lượng lúa trong nước.

Trong quý II, chỉ số giá gạo toàn cầu của FAO tăng khoảng 6,1%, chủ yếu do nguồn cung suy giảm theo mùa vụ trong khi nhu cầu nhập khẩu vẫn ở mức cao. Bên cạnh đó, chi phí vận chuyển và đầu vào tăng, cùng lo ngại El Niño ảnh hưởng đến sản lượng lúa, tiếp tục hỗ trợ đà tăng của giá gạo thế giới.

Theo số liệu của Cục Hải quan Việt Nam, trong quý II/2026, xuất khẩu gạo của Việt Nam đạt 2,74 triệu tấn, trị giá 1,3 tỷ USD, tăng 14% về lượng và 5,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, Việt Nam đã xuất khẩu hơn 5 triệu tấn gạo, với kim ngạch 2,4 tỷ USD, tăng 6,5% về lượng nhưng giảm 2,5% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.

Giá gạo xuất khẩu bình quân của Việt Nam trong tháng 6 tiếp tục tăng 4,3% so với tháng trước, lên 497 USD/tấn – mức cao nhất ghi nhận được trong 7 tháng qua, kể từ tháng 12/2025. Trong quý II, giá gạo xuất khẩu bình quân đạt khoảng 477 USD/tấn, tăng 1,4% so với quý I nhưng vẫn giảm 7,2% so với quý II/2025.

Còn trong 7 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 5,5 triệu tấn gạo, trị giá khoảng 2,64 tỷ USD; lượng tăng khoảng 0,5% nhưng kim ngạch giảm 6,7% so với cùng kỳ.

Theo số liệu của Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp & Môi trường), tính đến đầu tháng 8/2026, vụ hè thu 2026 các tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL đã thu hoạch được khoảng 442.000ha với năng suất khoảng 61,68 tạ/ha, sản lượng ước đạt 2,72 triệu tấn lúa. Vụ Thu Đông 2026 đã xuống giống 256.000ha/640.000ha diện tích kế hoạch, đạt gần 40%.

Với sự xuất hiện của El Nino, nhu cầu nhập khẩu và giá gạo dự báo sẽ tiếp tục tăng vào cuối năm nay. Theo USDA, xuất khẩu gạo của Việt Nam trong năm 2026 dự báo đạt 8,1 triệu tấn, tăng 200.000 tấn so với dự báo trước đó và tương đương năm 2025.

Giá lúa tươi gần như đi ngang, gạo nguyên liệu IR 504 tăng 100 đồng/kg và OM 380 tăng 50 đồng/kg

Giá lúa tươi gần như đi ngang, gạo nguyên liệu IR 504 tăng 100 đồng/kg và OM 380 tăng 50 đồng/kg

Thị trường lúa gạo ngày 20/8 tiếp tục duy trì trạng thái ổn định nhưng có sự phân hóa. Giá lúa tươi gần như đi ngang, trong khi gạo nguyên liệu IR 504 tăng 100 đồng/kg và OM 380 tăng 50 đồng/kg. Giá gạo thành phẩm, bán lẻ và xuất khẩu chưa có thay đổi đáng kể.

Lúa giữ giá, gạo nguyên liệu xuất khẩu tăng, nhiều nước tăng nhập gạo trước El Nino

Lúa giữ giá, gạo nguyên liệu xuất khẩu tăng, nhiều nước tăng nhập gạo trước El Nino

Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long ngày 19/8 nhìn chung ổn định. Trước dự báo El Nino có thể quay trở lại và mạnh nhất trong hơn 70 năm qua, nhiều quốc gia đang chủ động tăng dự trữ lương thực, trong đó có gạo.

Thị trường lúa gạo giao dịch trầm lắng, nông dân chưa chịu áp lực bán mạnh

Thị trường lúa gạo giao dịch trầm lắng, nông dân chưa chịu áp lực bán mạnh

Thị trường lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long ngày 18/8 tiếp tục giao dịch trầm lắng. Nguồn cung lúa tương đối dồi dào nhưng nông dân chưa chịu áp lực bán mạnh, trong khi thương lái và doanh nghiệp chủ yếu thu mua theo nhu cầu thực tế.

Thị trường đang chờ thêm tín hiệu từ nhu cầu nhập khẩu gạo

Thị trường đang chờ thêm tín hiệu từ nhu cầu nhập khẩu gạo

Thị trường lúa gạo ngày 17/8 đang trong trạng thái ổn định nhưng thanh khoản thấp. Giá lúa và gạo nguyên liệu chưa chịu áp lực giảm đáng kể, song cũng thiếu động lực để tăng mạnh.

Gạo Việt Nam ghi nhận tuần tăng giá thứ ba liên tiếp

Gạo Việt Nam ghi nhận tuần tăng giá thứ ba liên tiếp

Tại Việt Nam, giá gạo 5% tấm được chào bán ở mức 435-455 USD/tấn. Mức giá này tăng so với 430-450 USD/tấn một tuần trước.