Giá lúa tươi diễn biến trái chiều, OM 18 tăng 100 đồng/kg, IR 50404, OM 34 và Đài Thơm 8 giảm nhẹ

+ aA -
Nguyễn Phương

25/08/2026 12:06 GMT +7

Giá lúa gạo hôm nay 25/8/2026 tại Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung ít biến động. Giá lúa tươi diễn biến trái chiều, trong đó OM 18 tăng 100 đồng/kg, còn IR 50404, OM 34 và Đài Thơm 8 giảm nhẹ.

Giá lúa gạo hôm nay 25/8

Giá lúa gạo hôm nay 25/8/2026 tại Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung ít biến động. Giá lúa tươi diễn biến trái chiều, trong đó OM 18 tăng 100 đồng/kg, còn IR 50404, OM 34 và Đài Thơm 8 giảm nhẹ. Ở phân khúc gạo nguyên liệu, IR 504 và CL 555 tiếp tục giảm, trong khi các mặt hàng còn lại tương đối ổn định. Hoạt động giao dịch tại nhiều địa phương vẫn chậm.

Trung tâm Thông tin Công Nghiệp và Thương mại (VITIC) cập nhật tại các địa phương Đồng bằng sông Cửu Long cho biết, giá lúa OM 18 tăng lên 6.900 - 7.100 đồng/kg, cao hơn 100 đồng/kg so với ngày 24/8. Nguồn lúa tại một số khu vực đang thu hẹp sau giai đoạn thu hoạch rộ, trong khi nhu cầu đối với nhóm lúa thơm vẫn được duy trì, qua đó hỗ trợ giá. Ngược lại, lúa IR 50404 giảm còn 6.300 - 6.400 đồng/kg, OM 34 ở mức 6.000 - 6.200 đồng/kg và Đài Thơm 8 ở 6.800 - 7.000 đồng/kg. Giá OM 5451 giữ ở 6.600 - 6.700 đồng/kg.

Giá nếp không thay đổi, với nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg và nếp 3 tháng khô 9.600 - 9.700 đồng/kg.

Tại các địa phương, giao dịch nhìn chung chưa sôi động. Ở An Giang, thương lái hỏi mua mới còn ít; tại Đồng Tháp, hoạt động thu mua chậm và nhiều bạn hàng ngừng mua. Giá lúa tại Tây Ninh, Cần Thơ, Cà Mau và Vĩnh Long cơ bản ổn định. Việc nguồn cung giảm tại một số khu vực mới tạo lực đỡ cục bộ, chưa đủ để thúc đẩy giá tăng trên diện rộng.

Giá lúa gạo hôm nay 25/8/2026 tại Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung ít biến động. Giá lúa tươi diễn biến trái chiều, trong đó OM 18 tăng 100 đồng/kg, còn IR 50404, OM 34 và Đài Thơm 8 giảm nhẹ.

Đối với gạo nguyên liệu, IR 504 giảm xuống 9.450 - 9.550 đồng/kg, thấp hơn 150 đồng/kg so với ngày 24/8. CL 555 giảm còn 9.500 - 9.550 đồng/kg, giảm 100 đồng/kg ở mức thấp và 150 đồng/kg ở mức cao. Các loại khác giữ giá, gồm OM 5451 ở 9.300 - 9.400 đồng/kg, OM 18 ở 8.700 - 8.850 đồng/kg, Đài Thơm 8 ở 9.200 - 9.400 đồng/kg, OM 380 và Sóc thơm cùng ở 7.500 - 7.600 đồng/kg.

Sức mua gạo nguyên liệu phục vụ chế biến và xuất khẩu chưa cải thiện rõ rệt, trong khi giá gạo xuất khẩu vẫn đi ngang. Đây là yếu tố khiến doanh nghiệp chưa có nhiều dư địa nâng giá thu mua. Tuy nhiên, lượng lúa còn lại tại một số khu vực đang giảm, do đó khả năng giá giảm sâu trên diện rộng cũng được hạn chế.

Tại thị trường bán lẻ, giá gạo chủ yếu ổn định. Gạo Nàng Nhen tiếp tục ở mức 28.000 đồng/kg; Hương Lài và gạo Nhật cùng khoảng 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài 20.000 - 22.000 đồng/kg; Nàng Hoa 21.000 đồng/kg. Jasmine tăng 1.000 đồng/kg, lên 16.500 - 18.000 đồng/kg; Đài Thơm 15.500 - 17.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng 16.000 đồng/kg và gạo thường 13.500 - 15.500 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam chưa thay đổi. Gạo thơm 5% tấm ở mức 500 - 505 USD/tấn, gạo thơm 100% tấm 370 - 374 USD/tấn và Jasmine 538 - 542 USD/tấn. Giá gạo 5% tấm của Thái Lan ở 450 - 454 USD/tấn, trong khi Ấn Độ chỉ khoảng 360 - 364 USD/tấn, tiếp tục tạo sức ép cạnh tranh về giá đối với gạo Việt Nam.

Trong 7 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 5,5 triệu tấn gạo, trị giá 2,64 tỷ USD. Lượng xuất khẩu tăng khoảng 0,5%, nhưng kim ngạch giảm 6,7% so với cùng kỳ. Philippines tiếp tục là thị trường lớn nhất, chiếm khoảng 44,7% kim ngạch xuất khẩu, tiếp đến là Trung Quốc 19,1% và Ghana 9,6%.

Nhìn chung, thị trường lúa gạo ngày 25/8 tiếp tục phân hóa. OM 18 được hỗ trợ bởi nguồn cung thu hẹp, trong khi IR 50404, IR 504 và CL 555 chịu áp lực giảm do sức mua chưa cải thiện. Giá xuất khẩu đi ngang và cạnh tranh từ gạo giá thấp của Ấn Độ khiến khả năng tăng giá nguyên liệu chưa rõ ràng; trong khi nguồn cung giảm dần là yếu tố giúp hạn chế đà giảm trong thời gian tới.

Trong báo cáo công bố vào đầu tháng 8 của Bộ nông nghiệp Mỹ (USDA), sản lượng gạo toàn cầu trong niên vụ 2026-2027 được dự báo đạt 537,3 triệu tấn (quy theo gạo xay xát), tăng 0,1 triệu tấn so với dự báo tháng 7, nhưng giảm 8,2 triệu tấn (khoảng 2%) so với mức sản lượng kỷ lục 545,5 triệu tấn của niên vụ trước.

Dự báo thương mại gạo toàn cầu trong năm dương lịch 2027 không thay đổi trong tháng này, khi xuất khẩu gạo toàn cầu được duy trì ở mức kỷ lục 62,9 triệu tấn, đánh dấu 2 năm liên tiếp tăng trưởng.

Trong khi đó, nhập khẩu gạo toàn cầu cũng được dự báo ở mức cao nhất từ trước đến nay với 60,4 triệu tấn, khi mức tăng chủ yếu tại Trung Quốc.

Nhập khẩu gạo của Trung Quốc được điều chỉnh tăng do tốc độ nhập khẩu mạnh, đặc biệt đối với gạo tấm phục vụ mục đích làm thức ăn chăn nuôi, chủ yếu có nguồn gốc từ Việt Nam, Ấn Độ và Myanmar.

Trong tháng này, dự báo nhu cầu tiêu thụ gạo toàn cầu trong niên vụ 2026-2027 gần như không thay đổi so với ước tính trước, ở mức kỷ lục 542,8 triệu tấn, tăng khoảng 4,2 triệu tấn (tương ứng 1%) so với niên vụ trước.

Sản lượng giảm trong khi nhu cầu tiêu thụ vẫn tăng, điều này dẫn đến tồn kho gạo toàn cầu cuối niên vụ 2026-2027 giảm xuống còn 192,6 triệu tấn, giảm 5,6 triệu tấn, tương ứng 3% so với mức kỷ lục 198,2 triệu tấn của niên vụ trước.

Gạo nguyên liệu giảm, trong đó gạo CL 555 giảm mạnh, giá lúa đi ngang cuối tuần

Gạo nguyên liệu giảm, trong đó gạo CL 555 giảm mạnh, giá lúa đi ngang cuối tuần

Trong khi giá lúa tươi cơ bản ổn định do nhu cầu thu mua chậm, một số loại gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu giảm vào ngày cuối tuần hôm nay (22/8), trong đó gạo CL 555 giảm mạnh 150 đồng/kg.

Giá một số loại lúa tươi tăng, giảm trái chiều, gạo nguyên liệu xuất khẩu điều chỉnh nhẹ

Giá một số loại lúa tươi tăng, giảm trái chiều, gạo nguyên liệu xuất khẩu điều chỉnh nhẹ

Trong bối cảnh nhu cầu quốc tế chưa có sự bứt phá rõ ràng, giá gạo Việt Nam nhiều khả năng tiếp tục duy trì ổn định trong ngắn hạn. Diễn biến đơn hàng xuất khẩu, tốc độ thu mua nguyên liệu của doanh nghiệp và lượng lúa đưa ra thị trường sẽ tiếp tục là những yếu tố quyết định xu hướng giá trong thời gian tới.

Giá lúa tươi gần như đi ngang, gạo nguyên liệu IR 504 tăng 100 đồng/kg và OM 380 tăng 50 đồng/kg

Giá lúa tươi gần như đi ngang, gạo nguyên liệu IR 504 tăng 100 đồng/kg và OM 380 tăng 50 đồng/kg

Thị trường lúa gạo ngày 20/8 tiếp tục duy trì trạng thái ổn định nhưng có sự phân hóa. Giá lúa tươi gần như đi ngang, trong khi gạo nguyên liệu IR 504 tăng 100 đồng/kg và OM 380 tăng 50 đồng/kg. Giá gạo thành phẩm, bán lẻ và xuất khẩu chưa có thay đổi đáng kể.

Lúa giữ giá, gạo nguyên liệu xuất khẩu tăng, nhiều nước tăng nhập gạo trước El Nino

Lúa giữ giá, gạo nguyên liệu xuất khẩu tăng, nhiều nước tăng nhập gạo trước El Nino

Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long ngày 19/8 nhìn chung ổn định. Trước dự báo El Nino có thể quay trở lại và mạnh nhất trong hơn 70 năm qua, nhiều quốc gia đang chủ động tăng dự trữ lương thực, trong đó có gạo.

Thị trường lúa gạo giao dịch trầm lắng, nông dân chưa chịu áp lực bán mạnh

Thị trường lúa gạo giao dịch trầm lắng, nông dân chưa chịu áp lực bán mạnh

Thị trường lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long ngày 18/8 tiếp tục giao dịch trầm lắng. Nguồn cung lúa tương đối dồi dào nhưng nông dân chưa chịu áp lực bán mạnh, trong khi thương lái và doanh nghiệp chủ yếu thu mua theo nhu cầu thực tế.