Giá lúa neo cao, bất chấp thị trường giao dịch chậm

+ aA -
Nguyễn Phương

30/05/2026 16:29 GMT +7

Giá lúa gạo cuối tuần tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung ít biến động, giao dịch mua bán vẫn khá trầm lắng. Trong khi đó, thị trường gạo thế giới tiếp tục chịu tác động từ căng thẳng địa chính trị tại Tây Á, khiến xuất khẩu gạo của Ấn Độ sụt giảm do chi phí vận chuyển tăng mạnh.

Thị trường lúa gạo ngày 30/5: Giá lúa neo cao, giao dịch chậm

Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương (VITIC) cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi OM 18 hôm nay dao động ở mốc 6.500 - 6.700 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 (tươi) dao động ở mốc 6.500 - 6.700 đồng/kg; lúa OM 5451 (tươi) dao động mốc 5.800 - 6.000 đồng/kg; lúa IR 50404 (tươi) dao động ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.100 - 5.200 đồng/kg.

Tại các địa phương hôm nay, giao dịch mua bán lúa tươi Hè Thu sớm khởi sắc. Tại An Giang, nguồn lúa Hè Thu đã bắt đầu chào bán, nông dân neo giá cao, bạn hàng ít mua do dò giá, giá ít biến động. Tại Đồng Tháp, Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long, Tây Ninh, giao dịch lúa Hè Thu ít, giá vững.

Tương tự với mặt hàng gạo, giá gạo thành phẩm IR 504 hôm nay dao động ở 10.750 - 10.900 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 dao động ở mức 9.500 - 9.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 9.000 - 9.200 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.400 - 8.550 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ, giá gạo đi ngang. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; giá gạo thường dao động ở mốc 12.000 - 13.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg, gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.

Phân khúc nếp bình ổn. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg; giá nếp 3 tháng khô 9.600 - 9.700 đồng/kg.

Giá lúa gạo cuối tuần tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung ít biến động, giao dịch mua bán vẫn khá trầm lắng.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam hiện duy trì ở nhiều mức khác nhau. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo Jasmine được chào bán ở mức 528 - 532 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm dao động trong khoảng 505 - 520 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động từ 337 - 341 USD/tấn.

Trên thị trường thế giới, giá gạo 5% tấm tại Thái Lan dao động 440 - 444 USD/tấn, gạo 100% tấm dao động quanh mốc 415 USD/tấn.

Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm dao động ở mức 342 - 346 USD/tấn, gạo 100% tấm chào bán 280 - 284 USD/tấn.

Căng thẳng địa chính trị leo thang tại Tây Á đang giáng đòn mạnh vào ngành xuất khẩu nông sản chủ lực của Ấn Độ. Theo số liệu từ Liên đoàn các nhà xuất khẩu gạo Ấn Độ, kim ngạch xuất khẩu gạo của quốc gia này trong tháng 4 đã bốc hơi 6% so với cùng kỳ năm ngoái, lùi về mức 1,01 tỷ USD.

Tính toán từ số liệu của Cục Hải quan, trong 4 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu gạo của Việt Nam đạt 3,37 triệu tấn, tương đương 1,58 tỷ USD, giảm 1,59% về lượng và giảm 10,49% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2025. Giá xuất khẩu bình quân đạt khoảng 468 USD/tấn, giảm so với cùng kỳ năm trước.

Khu vực thị trường thuộc FTA RCEP tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu xuất khẩu gạo của Việt Nam với 2,51 triệu tấn, trị giá 1,13 tỷ USD, tăng 20,37% về lượng và tăng 8,38% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực Đông Nam Á đạt 1,93 triệu tấn, tương đương 843 triệu USD, tăng 12,84% về lượng nhưng giảm 1,3% về kim ngạch.

Philippines tiếp tục là thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026 với 1,69 triệu tấn, tương đương 740,48 triệu USD, tăng 13,62% về lượng và tăng 1,24% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước, chiếm gần 47% tổng lượng xuất khẩu gạo của cả nước.

Trung Quốc (Đại lục) đứng thứ hai với 562.882 tấn, trị giá 280,96 triệu USD, tăng mạnh 55,67% về lượng và tăng 53,82% về kim ngạch. Ghana đứng thứ ba với 233.063 tấn, tương đương 118,13 triệu USD, song giảm 23,41% về lượng và giảm 32,48% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước.

Bờ Biển Ngà đạt 225.520 tấn, tương đương 89,23 triệu USD, giảm mạnh 48,8% về lượng và giảm 57,6% về kim ngạch. Trong khi đó, Malaysia nhập khẩu 181.470 tấn gạo từ Việt Nam, trị giá 73,45 triệu USD, tăng 34,27% về lượng và tăng nhẹ 0,53% về kim ngạch.

Một số thị trường ghi nhận mức tăng trưởng mạnh như Mozambique đạt 34.437 tấn, trị giá 16,92 triệu USD, tăng 37,07% về lượng và tăng 10,48% về kim ngạch; Ả Rập Xê Út đạt 16.048 tấn, tương đương 9,34 triệu USD, tăng 54,74% về lượng và tăng 30,9% về kim ngạch. Đáng chú ý, xuất khẩu sang Iraq tăng đột biến lên 25.250 tấn, tương đương 13,88 triệu USD.

Ở chiều ngược lại, nhiều thị trường giảm mạnh như Indonesia chỉ đạt 4.386 tấn, giảm 73,17% về lượng và giảm 74,16% về kim ngạch; Senegal giảm tới 98,08% về lượng và 97,34% về kim ngạch; Thổ Nhĩ Kỳ giảm 92,8% về lượng và giảm 93,16% về kim ngạch. Xuất khẩu sang Bangladesh cũng giảm rất mạnh tới 99,83% về lượng.

Đối với các thị trường thuộc CPTPP, xuất khẩu gạo đạt 242.443 tấn, tương đương 106,59 triệu USD, tăng 18,33% về lượng nhưng giảm 8,47% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu sang thị trường EU đạt 8.803 tấn, trị giá 6,72 triệu USD, giảm 22,54% về lượng và giảm 24,07% về kim ngạch.

Xuất khẩu gạo sang khu vực Đông Nam Á tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu thị trường của Việt Nam, đạt 1,93 triệu tấn, tương đương 843 triệu USD, tăng 12,84% về lượng nhưng giảm 1,3% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước.

Xuất khẩu sang thị trường FTA RCEP đạt 2,51 triệu tấn, tương đương 1,13 tỷ USD, tăng 20,37% về lượng và tăng 8,38% về kim ngạch. Xuất khẩu sang thị trường FTA CPTPP đạt 242.443 tấn, tương đương 106,59 triệu USD, tăng 18,33% về lượng nhưng giảm 8,47% về kim ngạch. Trong khi đó, xuất khẩu sang thị trường EVFTA đạt 8.803 tấn, tương đương 6,72 triệu USD, giảm 22,54% về lượng và giảm 24,07% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước.

Nhìn chung, trong 4 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu gạo của Việt Nam giảm nhẹ về lượng nhưng giảm mạnh hơn về kim ngạch do giá xuất khẩu bình quân giảm so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, nhu cầu tại nhiều thị trường chủ lực vẫn duy trì tích cực, đặc biệt là Philippines và Trung Quốc, góp phần hỗ trợ xuất khẩu gạo của Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh trên thị trường thế giới ngày càng gia tăng.

Vì sao quốc gia mua gạo nhiều nhất thế giới vẫn nhập khẩu gạo số lượng lớn, dù có thời điểm ban hành lệnh cấm gì?

Vì sao quốc gia mua gạo nhiều nhất thế giới vẫn nhập khẩu gạo số lượng lớn, dù có thời điểm ban hành lệnh cấm gì?

Trong 4 tháng đầu năm 2026, Philippines đã nhập khẩu 1,68 triệu tấn gạo, tăng 18% so với cùng kỳ năm ngoái sau việc quốc gia mua gạo nhiều nhất thế giới này ban hành lênh cấm nhập khẩu gạo (bao gồm gạo từ Việt Nam). Hiện, lệnh cấm nhập khẩu gạo của Phippines không còn hiệu lực.

Vì sao gạo ST25 GlobalGAP ở Cần Thơ (địa phận tỉnh Sóc Trăng cũ) đang bán giá tốt ngoài 'chợ' nước Úc?

Vì sao gạo ST25 GlobalGAP ở Cần Thơ (địa phận tỉnh Sóc Trăng cũ) đang bán giá tốt ngoài "chợ" nước Úc?

Chiều 29/5, tại TP Cần Thơ, Báo Tuổi Trẻ phối hợp với UBND thành phố, Đại học Cần Thơ tổ chức hội thảo "Chuyển đổi xanh trong nông nghiệp: Từ công nghệ đến thị trường". Tại đây, một doanh nghiệp thông tin, gạo ST25 GlobalGAP sản xuất ở Cần Thơ (địa phận tỉnh Sóc Trăng cũ) bán tốt tại thị trường Úc.

Lúa gạo phát thải thấp là lúa gạo gì, vì sao gạo phát thải thấp của Việt Nam lại bán tốt ở châu Âu, Hoa Kỳ?

Lúa gạo phát thải thấp là lúa gạo gì, vì sao gạo phát thải thấp của Việt Nam lại bán tốt ở châu Âu, Hoa Kỳ?

Nhãn hiệu “Gạo Việt xanh phát thải thấp” được xem như “tấm hộ chiếu” để gạo Việt tiếp cận các thị trường khó tính như châu Âu hay Mỹ-nơi tiêu chuẩn xanh ngày càng trở thành điều kiện bắt buộc.

Bán đi khắp toàn cầu, Việt Nam vẫn cần nhập khẩu lượng lúa gạo khổng lồ, mua nhiều nhất từ Campuchia

Bán đi khắp toàn cầu, Việt Nam vẫn cần nhập khẩu lượng lúa gạo khổng lồ, mua nhiều nhất từ Campuchia

Mặc dù là nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới nhưng Việt Nam cũng nằm trong nhóm nước nhập khẩu lúa gạo lớn do nhu cầu nguyên liệu cho chế biến.