Giá lúa gạo trong nước vẫn ổn định, gạo Jasmine xuất khẩu tăng nhẹ

+ aA -
Nguyễn Phương

01/10/2026 20:11 GMT +7

Theo khảo sát, giá lúa gạo hôm nay tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung vẫn ổn định.

Giá lúa gạo hôm nay 1/10

Theo khảo sát, giá lúa gạo hôm nay tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung vẫn ổn định.

Ở nhóm gạo nguyên liệu, CL 555 đứng ở mức 8.750 - 8.850 đồng/kg, trong khi IR 504 cũng đạt 8.700 - 8.800 đồng/kg.

Các loại gạo nguyên liệu còn lại giữ ổn định. OM 5451 ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; OM 18 dao động 8.700 - 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.200 - 9.400 đồng/kg. OM 380 và Sóc thơm cùng ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.

Nhu cầu thu mua vẫn xuất hiện ở một số phân khúc, nhưng chưa đủ mạnh để tạo ra xu hướng tăng giá gạo trên diện rộng. Trong bối cảnh giao dịch chậm, khả năng giá các loại gạo nguyên liệu vẫn ổn định.

Tại các chợ lẻ, giá gạo tiếp tục đứng giá. Gạo Nàng Nhen có mức niêm yết cao nhất, 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài 20.000 - 22.000 đồng/kg. Các loại gạo phổ thông tiếp tục duy trì mặt bằng tương đối ổn định.

Phân khúc nếp cũng không ghi nhận biến động đáng kể. Nếp 3 tháng khô ở mức 9.600 - 9.700 đồng/kg, trong khi nếp IR 4625 tươi và IR 5625 tươi cùng dao động 7.300 - 7.500 đồng/kg.

Với nhóm phụ phẩm, tấm thơm ở mức 8.900 - 9.000 đồng/kg, còn cám dao động 7.500 - 7.700 đồng/kg.

Đối với mặt hàng lúa, theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, hiện giá lúa tươi OM 18 dao động ở mức 6.000 - 6.100 đồng/kg; giá lúa tươi OM 5451 dao động mốc 6.000 - 6.100 đồng/kg; lúa tươi IR 50404 dao động ở mức 5.900 - 6.000 đồng/kg; giá lúa tươi OM 34 dao động mốc 5.700 - 5.900 đồng/kg; giá lúa tươi Đài Thơm 8 dao động ở mức 6.100 - 6.200 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo Jasmine tăng nhẹ 1 USD/tấn, lên mức 515–519 USD/tấn. Gạo thơm 5% tấm vẫn giữ ổn định ở mức 440–445 USD/tấn và gạo trắng 5% tấm đạt 420–424 USD/tấn.

Tại các quốc gia xuất khẩu hàng đầu khác, giá gạo trắng 5% tấm của Thái Lan giảm thêm 4 USD/tấn, xuống còn 455 - 459 USD/tấn.

Đáng chú ý, giá gạo trắng 5% tấm của Pakistan giảm tới 13 USD/tấn, dao động từ 409 - 413 USD/tấn.

Tại Ấn Độ, giá gạo trắng 5% tấm tăng nhẹ 1 USD/tấn, lên mức 382 - 386 USD/tấn. Tương tự, gạo đồ 5% tấm tăng thêm 1 USD/tấn, ở mức 381 - 385 USD/tấn.

Được biết, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 365/2026/NĐ-CP về kinh doanh xuất, nhập khẩu gạo. Nghị định có hiệu lực từ ngày 1/10/2026, thay thế Nghị định số 107/2018/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo và Nghị định số 01/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 107.

Nghị định mới được xây dựng trên cơ sở tổng kết quá trình thực hiện các quy định hiện hành, nhằm khắc phục những bất cập phát sinh trong thực tiễn, đồng thời tạo hành lang pháp lý cụ thể, rõ ràng, minh bạch hơn.

Bên cạnh việc kế thừa các quy định còn phù hợp, Nghị định số 365/2026/NĐ-CP cũng bãi bỏ, cắt giảm một số quy định so với Nghị định số 107/2018/NĐ-CP và các văn bản có liên quan.

Nghị định số 365/2026/NĐ-CP đã cắt giảm điều kiện về xuất khẩu gạo từ 3 điều kiện (tại Nghị định số 107/2018/NĐ-CP) xuống còn 2 điều kiện, giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận, gia nhập thị trường kinh doanh xuất khẩu gạo.

Theo đó, thương nhân được thành lập, đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật được kinh doanh xuất khẩu gạo khi có ít nhất một kho chuyên dùng để chứa thóc, gạo và một cơ sở xay xát gạo đáp ứng các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.

Kho chứa và cơ sở xay xát có thể thuộc sở hữu của thương nhân hoặc được thuê của tổ chức, cá nhân khác. Trường hợp thuê phải có hợp đồng bằng văn bản theo quy định và bảo đảm thời hạn phù hợp với Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo.

Nghị định cũng quy định thương nhân đã được cấp Giấy chứng nhận không được cho thương nhân khác thuê kho chứa, cơ sở xay xát đã được Bộ Công Thương xác nhận trong Giấy chứng nhận của mình.

Cùng với đó, nhằm khuyến khích đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao giá trị gia tăng cho hạt gạo Việt Nam, Nghị định 365/2026/NĐ-CP mở rộng miễn trừ điều kiện kinh doanh đối với gạo hữu cơ, gạo đồ, gạo bổ sung vi chất dinh dưỡng.

Cụ thể, thương nhân xuất khẩu gạo hữu cơ, gạo đồ, gạo bổ sung vi chất dinh dưỡng không phải đáp ứng điều kiện về kho chuyên dùng chứa thóc, gạo và cơ sở xay xát để được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo, không phải thực hiện dự trữ lưu thông và không phải thực hiện chế độ báo cáo định kỳ như thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo thông thường. Quy định này tạo thuận lợi tối đa cho các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu các dòng gạo chất lượng cao, gạo đặc sản, góp phần nâng cao vị thế và sức cạnh tranh của gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Tại Nghị định số 365/2026/NĐ-CP, thủ tục hành chính đã được rà soát, quy định rõ ràng, bảo đảm doanh nghiệp dễ tiếp cận và dễ thực hiện.

Cụ thể, Nghị định đã bãi bỏ quy định về yêu cầu thương nhân cung cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy chứng nhận đầu tư trong thành phần hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận của thương nhân.

Giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chính đối với các thủ tục cấp, cấp lại, cấp sửa đổi, bổ sung giấy chứng nhận. Đối với thủ tục cấp giấy chứng nhận: Giảm thời gian cấp giấy chứng nhận cho doanh nghiệp trong trường hợp hồ sơ đầy đủ từ 15 ngày làm việc xuống còn 10 ngày làm việc và giảm thời gian trả lời doanh nghiệp khi hồ sơ chưa đầy đủ từ 7 ngày làm việc xuống còn 5 ngày làm việc.

Đối với thủ tục cấp lại, cấp sửa đổi, bổ sung giấy chứng nhận: Giảm thời gian cấp lại, cấp sửa đổi, bổ sung Giấy chứng nhận cho doanh nghiệp trong trường hợp hồ sơ đầy đủ từ 10 ngày làm việc xuống còn 7 ngày làm việc và giảm thời gian trả lời doanh nghiệp khi hồ sơ chưa đầy đủ từ 7 ngày làm việc xuống còn 5 ngày làm việc.

Cùng với đó, thành phần hồ sơ được quy định tối thiểu, chỉ gồm những chứng từ cần thiết cho quá trình cấp phép để đảm bảo đơn giản hóa thủ tục hành chính, không yêu cầu doanh nghiệp cung cấp các chứng từ mà cơ quan nhà nước có thể tự tra cứu các thông tin về doanh nghiệp trên cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp (như giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy phép đầu tư…), không yêu cầu các chứng từ cần phải công chứng.

Nghị định cũng quy định doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu gạo thực hiện 1 báo cáo định kỳ vào ngày 5 hằng tháng, thay vì thực hiện 3 lần báo cáo/tháng (tại Nghị định số 107/2018/NĐ-CP). Quy định này nhằm đơn giản hóa chế độ báo cáo, giảm thời gian và chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm cơ quan quản lý nhà nước có đầy đủ, kịp thời thông tin phục vụ công tác quản lý, điều hành hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu gạo.

Quy định mới liên quan đến xuất khẩu gạo người dân cần đặc biệt lưu ý từ 1/10

Quy định mới liên quan đến xuất khẩu gạo người dân cần đặc biệt lưu ý từ 1/10

Từ ngày 1/10, quy định mới về kinh doanh xuất khẩu gạo có hiệu lực, với những điều chỉnh về điều kiện cấp giấy chứng nhận, hoạt động nhận ủy thác xuất khẩu. Đặc biệt, Nghị định 365 mở rộng diện được miễn điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo...

Nguồn cung mới, nhu cầu nhập khẩu và cạnh tranh về giá gạo cần được theo dõi

Nguồn cung mới, nhu cầu nhập khẩu và cạnh tranh về giá gạo cần được theo dõi

Mặt bằng giá giữa các nguồn cung xuất khẩu tiếp tục có sự phân hóa. Đây là yếu tố khiến doanh nghiệp xuất khẩu trong nước phải cân đối thận trọng giữa giá bán, nhu cầu của khách hàng và chi phí thu mua nguyên liệu.

Việt Nam đã bán trên 6,1 triệu tấn gạo, dự báo Philippines sẽ nhập khẩu 5,5 triệu tấn gạo, Trung Quốc 4,1 triệu tấn

Việt Nam đã bán trên 6,1 triệu tấn gạo, dự báo Philippines sẽ nhập khẩu 5,5 triệu tấn gạo, Trung Quốc 4,1 triệu tấn

Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) dự báo Philippines sẽ nhập khẩu 5,5 triệu tấn gạo, Trung Quốc 4,1 triệu tấn trong năm 2026, trong khi đó, lũy kế từ đầu năm 2026 đến 15/9/2026 Việt Nam đã xuất khẩu 6,118 triệu tấn gạo, trị giá 2,933 tỷ USD.

Gạo nguyên liệu xuất khẩu tăng, giá lúa tươi đi ngang do giao dịch chậm

Gạo nguyên liệu xuất khẩu tăng, giá lúa tươi đi ngang do giao dịch chậm

Trong những ngày cuối tháng 9, thị trường lúa gạo nhiều khả năng tiếp tục biến động trong biên độ hẹp. Diễn biến nguồn cung lúa Thu Đông, sức mua của các nhà máy và tình hình đơn hàng xuất khẩu sẽ là những yếu tố cần theo dõi trong thời gian tới.

Giá gạo xuất khẩu chưa tạo thêm lực kéo đáng kể đối với thị trường lúa gạo nội địa

Giá gạo xuất khẩu chưa tạo thêm lực kéo đáng kể đối với thị trường lúa gạo nội địa

Diễn biến giá gạo xuất khẩu chưa tạo thêm lực kéo đáng kể đối với thị trường nội địa. Trong những phiên tới, giá lúa gạo nhiều khả năng vẫn phụ thuộc chủ yếu vào lượng lúa Thu Đông đưa ra thị trường và sức mua của các nhà máy.