Giá gạo nguyên liệu xuất khẩu giảm, chưa xuất hiện tình trạng nông dân bán tháo
28/08/2026 11:58 GMT +7
Nhìn chung, thị trường lúa gạo trong nước ngày 28/8 vẫn chịu sức ép từ giao dịch chậm và nhu cầu mua nguyên liệu yếu.
Giá lúa gạo hôm nay 28/8
Giá lúa gạo hôm nay (28/8) tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục phân hóa, trong đó giá gạo nguyên liệu xuất khẩu giảm 200 đồng/kg đối với IR 504 và CL 555. Thị trường giao dịch nhìn chung chậm, thương lái mua cầm chừng trong khi giá lúa tươi có xu hướng giảm nhẹ tại một số địa phương.
Trung tâm Thông tin Công Nghiệp và Thương mại (VITIC) cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi ngày 28/8 biến động nhẹ.
Lúa tươi OM 5451 dao động 6.500 - 6.600 đồng/kg, OM 34 ở mức 6.000 - 6.100 đồng/kg. OM 18 và Đài Thơm 8 cùng giữ mức 6.800 - 7.000 đồng/kg, trong khi IR 50404 dao động 6.300 - 6.400 đồng/kg.
Nhìn chung, nhóm lúa thơm vẫn duy trì mặt bằng giá cao hơn so với lúa thường, song sức mua chưa đủ mạnh để tạo động lực cho giá tăng trở lại.
Tại An Giang, thương lái hỏi mua mới còn lai rai, giá lúa tươi có xu hướng giảm nhẹ. Tại Đồng Tháp, giao dịch lúa mới ngưng trễ, một số bạn hàng chưa mua mới. Các địa phương như Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long và Tây Ninh cũng ghi nhận giao dịch mua bán mới ở mức thấp.
Dù sức mua yếu, thị trường chưa xuất hiện tình trạng nông dân bán tháo. Đây là yếu tố giúp hạn chế khả năng giá lúa giảm sâu trong ngắn hạn. Gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 giảm 200 đồng/kg, xuống 8.900 - 9.000 đồng/kg. CL 555 cũng giảm 200 đồng/kg, về cùng mức 8.900 - 9.000 đồng/kg.

Trong khi đó, gạo nguyên liệu OM 5451 giữ mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.200 - 9.400 đồng/kg; OM 18 dao động 8.700 - 8.850 đồng/kg. OM 380 và Sóc thơm cùng ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Diễn biến giảm giá của IR 504 và CL 555 cho thấy sức mua từ các doanh nghiệp và nhà máy chế biến vẫn chưa thực sự cải thiện. Trong khi đó, nguồn cung lúa hàng hóa thu hẹp phần nào hạn chế áp lực giảm giá mạnh hơn.
Đối với phụ phẩm, giá dao động trong khoảng 7.450 - 8.750 đồng/kg. Tấm thơm ở mức 8.600 - 8.750 đồng/kg, trong khi giá cám giảm 50 đồng/kg, xuống 7.500 - 7.600 đồng/kg. Gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất, khoảng 28.000 đồng/kg. Gạo Hương Lài và gạo Nhật cùng ở mức 22.000 đồng/kg. Gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 - 22.000 đồng/kg, Nàng Hoa khoảng 21.000 đồng/kg và Sóc Thái ở mức 20.000 đồng/kg.
Gạo Jasmine dao động 16.500 - 18.000 đồng/kg; gạo Đài Thơm ở mức 15.500 - 17.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng khoảng 16.000 đồng/kg. Gạo thường dao động 13.500 - 15.500 đồng/kg, còn gạo Sóc thường ở mức 14.000 - 15.000 đồng/kg. Gạo OM 18 được bán ở mức 15.500 - 16.500 đồng/kg.
Giá bán lẻ chưa giảm tương ứng với diễn biến của gạo nguyên liệu, do còn chịu tác động của lượng hàng tồn kho, chi phí xay xát, vận chuyển và phân phối.
Phân khúc nếp cũng đi ngang. Nếp 3 tháng khô dao động 9.600 - 9.700 đồng/kg, trong khi nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg.
Giá gạo xuất khẩu Việt Nam giảm nhẹ. Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam giảm nhẹ so với giữa tuần trước.
Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm dao động 470 - 480 USD/tấn. Gạo thơm 100% tấm ở mức 373 - 377 USD/tấn, giảm 2 USD/tấn; gạo Jasmine được chào bán 534 - 538 USD/tấn, cũng giảm 2 USD/tấn.
Trên thị trường thế giới, giá gạo diễn biến trái chiều. Tại Thái Lan, gạo 5% tấm tăng 2 USD/tấn, lên 453 - 457 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm giảm 8 USD/tấn, xuống 366 - 370 USD/tấn.
Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm tăng 4 USD/tấn, lên 364 - 368 USD/tấn; gạo 100% tấm dao động 304 - 308 USD/tấn.
Nhìn chung, thị trường lúa gạo trong nước ngày 28/8 vẫn chịu sức ép từ giao dịch chậm và nhu cầu mua nguyên liệu yếu. Giá gạo nguyên liệu IR 504 và CL 555 tiếp tục giảm, trong khi nhóm gạo thơm và thị trường bán lẻ tương đối ổn định. Trong ngắn hạn, nguồn cung thu hẹp và việc nông dân không bán tháo có thể giúp hạn chế đà giảm sâu của giá lúa.
Số liệu mới nhất của Cục Hải quan Việt Nam cho thấy, tính từ đầu năm đến ngày 15/8, Việt Nam đã xuất khẩu 5,7 triệu tấn gạo, thu về 2,73 tỷ USD. So với cùng kỳ năm 2025, lượng xuất khẩu giảm 2,4%, trong khi kim ngạch giảm tới 8,7%.
Riêng 15 ngày đầu tháng 8, xuất khẩu gạo đạt 230.273 tấn, kim ngạch 118,4 triệu USD, giảm lần lượt 36,5% về lượng và 34% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái.
Trong báo cáo công bố vào đầu tháng 8 của Bộ nông nghiệp Mỹ (USDA), sản lượng gạo toàn cầu trong niên vụ 2026-2027 được dự báo đạt 537,3 triệu tấn (quy theo gạo xay xát), tăng 0,1 triệu tấn so với dự báo tháng 7, nhưng giảm 8,2 triệu tấn (khoảng 2%) so với mức sản lượng kỷ lục 545,5 triệu tấn của niên vụ trước.
Trong khi đó, nhập khẩu gạo toàn cầu cũng được dự báo ở mức cao nhất từ trước đến nay với 60,4 triệu tấn, khi mức tăng chủ yếu tại Trung Quốc và Mozambique.
Trong tháng này, dự báo nhu cầu tiêu thụ gạo toàn cầu trong niên vụ 2026-2027 gần như không thay đổi so với ước tính trước, ở mức kỷ lục 542,8 triệu tấn, tăng khoảng 4,2 triệu tấn (tương ứng 1%) so với niên vụ trước.
Sản lượng giảm trong khi nhu cầu tiêu thụ vẫn tăng, điều này dẫn đến tồn kho gạo toàn cầu cuối niên vụ 2026-2027 giảm xuống còn 192,6 triệu tấn, giảm 5,6 triệu tấn, tương ứng 3% so với mức kỷ lục 198,2 triệu tấn của niên vụ trước.
Xem thêm
Sức mua của thương lái hạn chế, lúa tươi và gạo nguyên liệu xuất khẩu tiếp tục giảm
Thị trường lúa gạo trong nước đang chịu tác động chủ yếu từ sức mua yếu và tốc độ giao dịch chậm.
Một số loại lúa tươi và gạo nguyên liệu lại giảm, giao dịch chậm
Thị trường lúa gạo ngày 26/8 chưa cho thấy tín hiệu cải thiện rõ rệt về giao dịch. Giá lúa tươi và một số loại gạo nguyên liệu điều chỉnh giảm trong bối cảnh nhu cầu mua tại nhiều vùng nguyên liệu còn yếu, trong khi giá gạo bán lẻ và xuất khẩu vẫn tương đối ổn định.
Gạo nguyên liệu giảm, trong đó gạo CL 555 giảm mạnh, giá lúa đi ngang cuối tuần
Trong khi giá lúa tươi cơ bản ổn định do nhu cầu thu mua chậm, một số loại gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu giảm vào ngày cuối tuần hôm nay (22/8), trong đó gạo CL 555 giảm mạnh 150 đồng/kg.
Giá một số loại lúa tươi tăng, giảm trái chiều, gạo nguyên liệu xuất khẩu điều chỉnh nhẹ
Trong bối cảnh nhu cầu quốc tế chưa có sự bứt phá rõ ràng, giá gạo Việt Nam nhiều khả năng tiếp tục duy trì ổn định trong ngắn hạn. Diễn biến đơn hàng xuất khẩu, tốc độ thu mua nguyên liệu của doanh nghiệp và lượng lúa đưa ra thị trường sẽ tiếp tục là những yếu tố quyết định xu hướng giá trong thời gian tới.
Giá lúa tươi gần như đi ngang, gạo nguyên liệu IR 504 tăng 100 đồng/kg và OM 380 tăng 50 đồng/kg
Thị trường lúa gạo ngày 20/8 tiếp tục duy trì trạng thái ổn định nhưng có sự phân hóa. Giá lúa tươi gần như đi ngang, trong khi gạo nguyên liệu IR 504 tăng 100 đồng/kg và OM 380 tăng 50 đồng/kg. Giá gạo thành phẩm, bán lẻ và xuất khẩu chưa có thay đổi đáng kể.









